Bí Tắc Kim Cang Công Phu
Bí Tắc Kim Cang Công Phu
Cập nhật lúc: 07 Tháng Mười Hai 2010 12:27:36 CH

Bí Tắc Kim Cang Công Phu là loại Khí công thượng thừa và chỉ được mật truyền, người có đủ cơ duyên mới được các vị chân sư chỉ dạy cho từng bước một. Công năng của nó dùng chữa trị thân bệnh và tâm bệnh...

                 LỜI GIỚI THIỆU

Người có tâm đức đem những nội dung sở học hữu ích giúp cho xã hội và lưu truyền lại cho lớp người sau là điều rất quý báu và đáng kính trọng.

Ông Liên Nhã Trần Kim Cang có nhiều hiểu biết và thực tế trong các lĩnh vực tâm linh đã được ông cha và thầy tổ truyền đạt. Ông thường nhắc nhở cho các học trò của mình luôn giữ tâm đức và hãy thể hiện những điều chân chánh, thật tốt đẹp cho tâm linh càng thêm sáng ngời. Hiện nay có nhiều người thuộc nhiều giới, ở từ nhiều nơi, cả người nước ngoài có cơ duyên được ông truyền đạt những môn học về tâm linh để chữa trị bệnh...

Ba quyển sách Khí công Kim Cang Thiền, Kim Cang Dịch Quái Linh Phù và Bí Tắc Kim Cang Công Phu của cùng một tác giả lần lượt ra đời đều có giá trị cao về lĩnh vực trí tuệ và có lợi cho việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đồng thời nội dung quyển sách đã truyền đạt cho nhiều người và thể hiện thành công những gì gọi là công năng huyền bí, giúp cho lớp người sau nhìn thấy những gì đúng sai, chân giả của bùa chú để tránh nhầm lẫn, mê tín.

Những người có duyên đã được một lần nhìn thấy tận mắt hoặc xem qua màn ảnh nhỏ với chương trình “chuyện lạ Việt Nam” do đài truyền hình VTV3 phát sóng hàng tuần, trong đó có những tiết mục biểu diễn làm khán giả hồi hộp, thích thú như là kéo xe có tải trọng nặng, dùng bàn tay chặt bê tông hay nhiều lớp gạch thẻ, đóng đinh vào người, nằm trên miểng chai, đi qua lửa than hồng… được học trò của ông thực hiện theo nội dung quyển BÍ TẮC KIM CANG CÔNG PHU này. Công năng chính của 36 pháp công phu sau đây nhằm để bảo hộ sức khoẻ cho cơ thể, tinh thần bình an và hoàn toàn không làm hại ai.

Như vậy, điều đó chứng minh cho thấy nội dung những bài học đã được ông Liên Nhã Trần Kim Cang truyền dạy cho những người học trò với độ tuổi, học vấn và địa vị xã hội khác nhau là các nội dung khoa học, không phải là chuyện dị đoan.

Mong rằng bạn đọc và ai cũng tìm thấy cho mình những điều bổ ích trong cuộc sống.

 

Thành phố Hồ Chí Minh 12 - 05 – 2007.

KS. HUỲNH BỬU HÒA

- Nguyên Uỷ viên Hội Địa lý Niệt Nam.

 Nguyên Phó chủ tịch Hội Địa lý – Địa chất

Thành phố Hồ Chí Minh

 

 

Thay lời nói đầu

Các bạn trẻ đọc giả thân mến,

Quyển Bí Tắc Kim Cang Công Phu này tôi soạn đã hoàn chỉnh và từ nay cho lưu hành nội bộ. Các tài liệu đã phổ biến từ trước nội dung còn rất nhiều sự kém khuyết, hoặc không chính xác, vì vậy các bạn hãy thiêu hủy để tránh nhầm lẫn khi sử dụng, rất cảm ơn.

Bí Tắc Kim Cang Công Phu là loại Khí công thượng thừa và chỉ được mật truyền, người có đủ cơ duyên mới được các vị chân sư chỉ dạy cho từng bước một. Công năng của nó dùng chữa trị thân bệnh và tâm bệnh... “Trước hết tôi mong các bạn hãy tìm hiểu không muốn mọi người vội tin.”

Thưa các bạn, tôi viết các quyển như Bí Tắc Kim Cang Công Phu, Kim Cang Dịch Quái Linh Phù và Khí Công Kim Cang Thiền này là vì bổn phận phải lưu truyền cái vốn rất quý hiếm và vô cùng giá trị của thầy tổ, ông cha ta cho các con cháu ngàn đời sau, không phải vì tham danh vọng hay muốn “tranh hùng xưng bá”.

 Nỗi đau lòng của tiền nhân đã làm cho tôi hàng ngày trăn trở, giấc ngủ không yên:

       “ Ta mang một túi càn khôn

Chưa truyền hậu thế vội chôn xuống mồ

Ngày đêm ta  phải trông chờ

Tâm linh ngời sáng đến giờ trao tay

Bằng không gặp cảnh duyên này

Ta đầu thai lại làm thầy giảng du

Mong người thấu nỗi hiền ngu..........”

Suy nghĩ đến những điều đó khiến tôi phải có trọng trách: Có duyên được kế truyền từ vị thầy cõi tâm linh thì phải có bổn phận truyền dạy cho hậu thế với những người có tâm đức và thiện duyên với bùa chú, không thể để cho những pháp môn này mai một!...

Những người vốn không có duyên nên chưa được một lần nhìn thấy tận mắt các công năng đặc dị của bùa chú, nếu chỉ được nghe những người lớn tuổi kể lại những chuyện lạ trên đời có đầy sự bí ẩn như: Ông A hay ông B ở vùng Nam bộ tát nước vào ruộng bằng hình nhân, chẽ củi bằng bàn tay, kéo ghe chài bằng sợi chỉ, đi trên lửa than dài bảy tám mét, lặn dưới nước hàng giờ đồng hồ, đi qua sông bằng nón lá, v.v... Những pháp môn làm kinh thiên động địa của một thời xa xưa đó đều là pháp thuật của ông cha chúng ta bày ra có tính giáo dục nhân tâm đạo đức cho con cháu. Nếu ngày nay chúng ta không tìm hiểu, nghiên cứu và phát huy những điều đáng quý kia thì dần dần nó sẽ bị mai một, thật đáng tiếc vô cùng...

“Bùa chú không có tính tôn giáo, bùa chú thể hiện sức sáng tạo của con người trong lúc tâm linh vô thức thăng hoa, nó là loại khí công thượng thừa dùng để chữa trị thân bệnh và tâm bệnh, bùa chú có tính khoa học tâm linh rất sâu sắc nên bản thân bùa chú không phải là những điều mê tín, mà chỉ có những người không muốn hiểu biết về nó đã khoác lên bùa chú chiếc áo đầy sắc màu mê tín”.

Bùa chú có nhiều phái như của chư vị Tiên trưởng, Đạo gia, Phật gia, v.v... Bùa chú là phương pháp chữa bệnh trong dân gian, nó mang tính dân tộc của nhiều quốc gia trên thế giới. Sự linh nghiệm của nó cũng không thể nói hết hay suy nghĩ đến cùng tận. Nếu người không có duyên được lĩnh hội từ một vị thầy trong tâm linh hay những vị thầy bằng xương thịt mà chỉ dùng tri thức cá nhân để tìm hiểu, nghiên cứu bùa chú thì chẳng khác nào như những người trong câu chuyện năm người mù sờ con voi: Người bảo con voi như con đĩa, người bảo con voi như cái quạt, người bảo con voi như cây cột nhà, người bảo con voi như cái trống, người bảo con voi như cây chổi quét nhà. Hay cũng như kẻ khù khờ đứng từ xa ngắm nhìn ngơ ngác cái vẻ đẹp lạ lùng từ bên ngoài của một toà cung điện quá to lớn, nguy nga, tráng lệ... rồi hoảng sợ vội bỏ chạy và la lên: Đừng có tin, đừng có tin, đó là ngôi nhà ma, không có gì hay đâu, nó giết chết mọi người, đừng vào đấy, v.v…

Các bạn muốn tìm hiểu, nghiên cứu bùa chú thật ư ? Không có gì khác hơn là: “Trăm nghe không bằng một thấy, ngàn ngàn lần nhìn thấy không bằng một lần chính mình thực hiện thành công”.

Thời gian qua tôi đã truyền dạy cho rất nhiều học viên trong nước và người nước ngoài có nhiều tâm đức, một vài bài chú mang tính công phu đặc dị trong quyển Bí Tắc Kim Cang Công Phu này và họ đã đem sở học của mình ra biểu diễn trước quần chúng, những nơi lễ hội, hay trên đài truyền hình.... như những môn: đâm kim và đóng đinh vào người, kéo xe tải qua móc sắt vào người, đập đá trên đầu, nằm trên bàn chông, nằm trên mảnh thuỷ tinh, nằm trên lưỡi dao sắc và nhọn, cho xe ôtô nặng hàng tấn cán tự nhiên qua người, đi qua lửa, đứng trên tờ giấy mỏng, múa lửa, đâm sắt nhọn vào cổ hay vào thân người, dùng móc sắt móc vào thân thể treo lên cao, nằm trong nước ao sâu vài giờ, v.v... Họ thể hiện được như vậy thì tinh thần rất phấn khởi và được sự nhiệt liệt khen thưởng nhiều mặt của quần chúng.

Quyển Bí Tắc Cang Công Phu đến tay quý vị bạn đọc, với lời chân thành và lòng biết ơn sâu sắc của chúng tôi đến các vị mạnh thường quân, các học trò cộng sự, các bạn hữu, tất cả anh chị em học viên trong và ngoài nước, đã tận tình giúp đỡ tinh thần cũng như vật chất để chúng tôi sớm hoàn thành hoài bão này.

Sách khó tránh khỏi những sai lầm và thiếu sót, chúng tôi hoan hỷ xin thâu nhận mọi ý kiến phê bình và chỉ giáo từ các độc giả để nội dung ngày càng hoàn thiện hơn.

Bình Dương mùa hè năm Đinh Hợi – 2007

Trân trọng

Liên Nhã TRẦN KIM CANG 

 

CHƯƠNG MỘT

 

I - NGUỒN GỐC BÍ TẮC KIM CANG CÔNG PHU (*)

Tôi tên Trần Kim Cang pháp danh Thích Liên Nhã, lúc đang giữ chức trụ trì chùa Phú Thọ, đường Lãnh Binh Thăng quận 11 Sài gòn, xin ghi lại câu chuyện trong giấc mơ như sau:

“Vào đêm rằm tháng 10 năm Ất Tị, nhằm ngày 07-11-1965. Nửa đêm khuya trong lúc tịnh thiền, tiềm thức tôi thấy cụ già tóc bạc, mặc áo rộng có thêu nhiều hình Bát quái, bằng chỉ kim tuyến màu vàng sáng chói… Tôi hiểu ngay đây là Đức Thái Thượng Lão Quân. Ngài trao cho tôi một cái túi vải nhung màu đỏ, tôi mở dây cột miệng ra thấy một quyển sách ngoài bìa cũng màu đỏ, chính giữa dán một mẩu giấy nhỏ màu trắng có ghi mấy chữ nho bằng mực đen: “DỊCH QUÁI LINH PHÙ” (nay sách có tựa là Kim Cang Dịch Quái Linh Phù). Sau đó Ngài trao tiếp cho tôi một cái túi vải nhung màu đen, tôi mở dây cột miệng ra thấy một quyển sách ngoài bìa cũng màu đen, chính giửa dán một mẩu giấy nhỏ màu trắng có ghi mấy chữ nho bằng mực đen: “KHÍ CÔNG BÍ TRUYỀN“ (nay sách có tựa là Khí công Kim Cang Thiền). Rồi Ngài lại trao tiếp cho tôi một cái túi vải nhung nữa màu xanh lá cây, tôi mở dây cột miệng ra thấy một quyển sách ngoài bìa cũng màu xanh lá cây, chính giữa dán một mẩu giấy nhỏ màu trắng có ghi mấy chữ nho bằng mực đen: “HUYỀN BÍ CÔNG PHU“ (nay sách có tựa là Bí Tắc Kim Cang Công Phu ).

 “Bỗng có cơn gió thổi đến rất mạnh, khiến tôi bay lên tận không trung. Tôi thấy mình đang dạo bước thảnh thơi trên những đám mây có năm màu sáng chói, tươi đẹp, tôi đưa mắt ngắm nhìn nhiều toà lâu đài nguy nga, tráng lệ... bên tai tôi nghe rõ giọng ngâm từng câu thơ  rằng:

“Ta mang một túi càn khôn

Chưa truyền hậu thế vội chôn xuống mồ

Ngày đêm ta phải trông chờ

Tâm linh ngời sáng đến giờ trao tay

Bằng không gặp cảnh duyên này

Ta đầu thai lại làm thầy giảng du

Mong người thấu nỗi hiền ngu

Minh tâm kiến tánh cần tu tiên đài

Muốn thành công phải miệt mài

Chuyên tâm tập luyện không nài gian lao

Có duyên mới được truyền trao

Phép mầu không dễ người nào cũng thông

Tài cao nhờ bởi chuyên lòng

Phép linh còn, mất do trong tâm mình

Không vì tài lợi đua tranh

Thị phi chồng chất tâm linh lu mờ

Học cho thấu bến rõ bờ   

Không thôi đừng học, ngu ngơ người cười”.

“Và vọng lại tiếng cười đầy an lạc của Đức Thái Thượng Lão Quân... làm tôi chợt tỉnh thức“.

Đại ý bài thơ nói lên nỗi niềm của vị thầy tâm linh đang mong mỏi tìm được hiền nhân để trao gửi những điều vô giá. Xin đặt tên bài này là “Tâm sự của đấng tâm linh”.

 

(*) ---------------------------------------------------------

Bí Tắc Kim Cang Công Phu:

* Bí - huyền bí: môn học về các mầu nhiệm...

* Tắc - nguyên tắc: điều cơ bản định ra...

* Kim cang: tên của một người.

* Công phu: tốn nhiều thời gian khổ luyện.

Giải thích:

-      Người ham thích môn học về các mầu nhiệm nhất thiết phải tuân theo những điều cơ bản đã đặt ra và phải tốn rất nhiều thời gian khổ luyện mới thành công.   

 

II - CĂN DUYÊN LÀNH

Ngày 09 tháng 12 năm Bính Ngọ - 1966. Tại Chùa Giác Sanh 103 Đường Lê Đại Hành Quận 11 Saigon. Vào một buổi chiều vắng vẻ, tôi ngồi trong liêu phòng luyện tập các Chữ Bùa, nhắm mắt niệm những bài Thần Chú, dùng vào việc chữa bệnh giải an cho chư Phật tử.

Mặc dù tôi đang nhắm mắt nhưng tinh thần của tôi rất tỉnh táo, hoàn toàn không buồn ngủ. Chợt trước mắt tôi có một vùng ánh sáng màu vàng như ánh trăng chiếu xuống... Từ trong ánh sáng màu vàng đó Ngài Địa Tạng Đại Bồ Tát hiện rõ nguyên hình và bước đến đứng trước mặt tôi đọc bài kệ rằng:    

“ Vạn pháp bằng tư tưởng

Nhiều lời còn một lời

Nhiều nét còn một nét

Linh nghiệm không nói hết

Quán nét bùa câu chú

Thành linh vật vàng kim

Từ trong ánh kim hoàng

Cầu xin đúng sở nguyện

Trăm việc đều như  ý …”

Bất chợt tôi mở mắt ra, cảm thấy có mùi trầm hương đang thoang thoảng khắp phòng. Tôi liền quỳ lạy vào khoảng không trung ba lạy, tạ ân Ngài Địa Tạng Đại Bồ Tát đã chỉ giáo!

Thường ngày tôi đem bài kệ ra đọc... vậy mà chẳng thấu hiểu lý lẽ huyền vi!

Mỗi đêm, trước khi ngủ tôi đều cầu khấn Phật Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát và Phật Mẹ Cửu Thiền Huyền Nữ chỉ giáo cho những điều mà tôi thường hay thắc mắc để  hiểu biết thêm.

Một hôm trong giấc ngủ, tôi được Phật Mẹ Cửu Thiên Huyền Nữ  giảng dạy cho:   

“…Tập trung tư tưởng là nguyên động lực giúp mọi người thành công trong nhiều lĩnh vực. Trước kia thường dùng những bài chú quá dài dòng, có nhiều từ, chữ bùa có nhiều nét. Ta phải biết biến đổi trở nên ngắn gọn, để dễ dàng luyện tập, thành công nhanh hơn... bởi vì, nếu đọc bài chú quá dài dòng khiến tâm trí khó tập trung, vẽ chữ bùa nhiều nét khiến tư tưởng dễ phân tán. Nay dùng thần chú chỉ còn một từ, hoặc đạo bùa chỉ còn một nét thôi, vẫn đủ sức chứng tỏ những quyền năng, và sự linh nghiệm cũng không thể nói hết”.

“Riêng người hay dùng bùa chú vào việc chữa bệnh giải an, cứu nhân độ thế. Khi vẽ bùa hay niệm chú  phải tập trung tư tưởng cao độ. Quán tưởng từng nét của chữ bùa thành màu vàng kim chiếu sáng lấp lánh và câu thần chú phải hiện rõ từng chữ hay nguyên bài cũng thành màu vàng kim sáng ngời. Rồi nhìn ngay vào ánh vàng kim sáng ngời đó mà thành tâm cầu xin những điều gì mà chính mình đang mong muốn... Dẫu cho có đến hàng trăm, hàng ngàn việc cầu xin khác nhau, nhưng nếu tập trung tư tưởng thực hiện được như vậy thì chắc chắn đều thành công như ý”.

Từ ngày đó về sau, mỗi khi tôi dùng đến bùa chú, đều khấn bái Phật Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu, Phật Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát, Phật Mẹ Cửu Thiên Huyền Nữ, Đức Thái Thượng Lão Quân, Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát, Đức Chúc Do Tổ Sư, Đức Lỗ Ban Tiên Sư và Vạn Ban Ngũ Hành hộ trì…

CHƯƠNG HAI 

 



 

LỜI NGUYỀN

CỦA KIM CANG TIÊN SƯ

Ngàn năm sau nữa ai cầu đến

Hồn vẫn hiện về trong khói hương.

 

 

LỜI KHUYÊN 

“Hãy tự nói lời xin lỗi khi mình vừa có ý nghĩ sai…” 

 

 CHƯƠNG BA

 

I – NHỮNG LỜI ĐÁNG GHI NHỚ

Đức Thái Thượng Lão Quân dạy: "Người muốn thành công trong việc tu luyện bùa chú không được nói lời hung ác, xỉ nhục khinh thường các bậc tiên thánh thầy tổ, ông bà, cha mẹ, vợ chồng, anh em, họ hàng, con cháu, bạn hữu láng giềng. Nếu người còn tâm tánh đó mà hành trì bùa chú thì không linh nghiệm".

Đạo sĩ Kim Kang Ta nói: Nếu không dạy “đạo” mà chỉ dạy “thuật”, thì khiến cái tâm của người học trò không trong sáng, sẽ gây ra nhiều điều chẳng lành trong thiên hạ, ảnh hướng xấu đến tổ tiên, giảm uy danh môn phái, thầy tổ và cha mẹ rất đau lòng…, về sau, bản thân và gia đình của người học trò ấy sẽ gặp nhiều cảnh khốn khổ. Vì vậy hãy học đạo trước rồi sẽ học thuật sau.

Đạo sĩ Kim Kang Ta nói: Mục tiêu người học bùa chú là để tu luyện cái tâm và khi  thực hành bùa chú cứu nhân giúp đời là sự tu nhân tích đức cho bản thân và có ảnh hưởng tốt đẹp đến con cháu ngàn đời sau…, thường ngày chúng ta không để tâm rèn luyện đạo đức để những việc tốt đẹp càng thật tốt đẹp hơn, danh thơm tiếng tốt bay xa hơn..., nếu trong một khoảnh khắc nào đó, mình có hành động thiếu suy nghĩ nên bị “mất đức” thì thật đáng tiếc, sự ăn năn không còn ý nghĩa nữa, dù trải qua bao thời gian, danh tiếng xấu mà mình đã gây ra vẫn không xóa hết!...

Đạo sĩ Kim Kang Ta nói: Chúng ta hãy xem sự thành công của mình là một phương tiện quá nhỏ bé để tiến tu tâm đức nhiều hơn nữa cho thân thể thêm thuần khiết và tâm trí càng minh mẫn, yên vui hơn. Không vì tài lợi đem tài năng ra tranh đua, hơn thiệt cùng nhau. Bởi vì, tất cả chúng ta phải ghi nhớ rằng: Những công năng đặc dị từ bùa chú mà ta có được hôm nay, đều từ “Một vị thầy tâm linh” truyền dạy. Nếu chúng ta bày trò so tài cao thấp, gây chuyện hơn thua với nhau thì sẽ bị tiếng đời cười chê: “Gà bầy bôi mặt đá nhau”, là người không biết tự hỗ thẹn, không đạo đức, kẻ phản lại thầy, hại bạn đồng môn…, chính ta làm cho lời thi phi càng chồng chất, là kẻ làm cho thầy tổ, cha mẹ đau lòng, buồn tủi, hỗ thẹn không dám ngước mặt nhìn mọi người và cũng chính vì những điều đó làm cho tâm linh, danh tiếng của chúng ta bị lu mờ, tài năng sẽ không còn người đời chú ý trọng dụng.

Đạo sĩ Kim Kang Ta nói: Thầy thuốc và thầy bùa đều là người chữa bệnh,  luôn được mọi người, mọi giới tôn trọng vì có lương tâm và đạo đức cao cả. Nhưng cũng dễ đánh mất lương tâm đạo đức hơn cả.

 

II - LỜI THỀ KHI THỌ GIÁO

Người theo ngành nghề y học, bùa chú, thiên linh, ngải linh, v.v.… là những học thuật đều có những lời thề do mỗi trường phái đặt ra… nội dung là những sự cam kết không làm việc sai phạm đạo đức, chuyên môn, làm tổn hại đến tiền của và thân mạng người khác. Lời thề là đạo rất linh thiêng luôn được người có lương tri, tâm đức tôn trọng, nhưng đối với kẻ tà tâm, gian ác thì hay khinh thường. Người hành nghề bùa chú mà không nêu cao tâm đức thì luật pháp quốc gia sẽ khó dung, ảnh hưởng đến con cháu ngàn đời sau phải sống kiếp sống ê chề đen tối… 

Trong Bí Tắc Kim Cang Công Phu có 99 điều thề. Tùy theo công năng của mỗi bài học vị sư phụ sẽ chọn ra từ 01 đến 99 điều thề truyền dạy người học trò. Mỗi câu thề có năng lực tâm linh rất cao, tác động sự linh ứng rất mạnh, vì vậy người giữ đứng lời đã thề khi thực hiện các phép thần bí đều có hiệu quả rất lớn. Nếu về sau, người sai phạm lời đã thề trước linh đàn thì những khả năng đã có sẽ không còn linh nghiệm nữa và bản thân mắc nhiều thứ bệnh đau khó chữa trị, hay gặp những tai nạn khôn lường…

Lễ vật đặt trên linh đàn: hai ngọn nến, ba cây nhang, một ly nước trong và một cành hoa duy nhất (không kể loài), với một tấm lòng thành kính, đó là đã đầy đủ đại lễ. Hãy ghi nhớ câu: “Thánh tổ thì không đặt điều, riêng thầy hay bày lễ vật.” 

 

   III - 99 Điều thề trong

Bí Tắc Kim Cang Công Phu

Khi vị sư phụ truyền dạy mỗi bài trong Bí Tắc Kim Cang Công Phu cho các học trò đều phải chọn ra các điều thề sau đây để điền vào chỗ trống trong Bài nguyền trước linh đàn. Nếu được truyền nhiều bài thì điều thề càng tăng lên… 99 điều thề như sau: 

1- Luôn hòa đồng, vui vẻ với mọi người và biết học hỏi cái hay của người khác.

2- Phải hiếu kính ông bà, cha mẹ, thầy tổ.

3- Phải thờ cúng tổ tiên, tổ nghiệp

4- Anh em hòa thuận, láng giềng thân giao.

5- Chăm sóc, gánh vác công việc gia đình.

6- Kính trọng họ hàng, người lớn tuổi, bạn bè.

7- Sẵn lòng giúp người bị hại hay gặp nạn.

8- Giúp người nghèo khó, tàn tật.

9- Không bất hiếu.

10- Không phản thầy.   

11- Không hại bạn.

12- Không sai phạm pháp luật nhà nước.

13- Không khinh chê tôn giáo, các phầm âm…

18- Không khinh chê các môn học khác.

19- Không hủy hoại kinh sách, bút mực, hình tượng.

20- Không gây mâu thuẩn với các môn phái khác.

14- Không đập phá am miếu, đình chùa…

15- Không đội khăn, nón và mang giày, dép vào đền chùa…

17- Không lấy từng cái bánh, trái cây trên bàn thờ cúng…xuống ăn.   

16- Không hỉ mũi, khạc nhỗ bừa bãi.

21- Không khinh rẻ người tàn tật, nghèo khó.

22- Không cười chê người bệnh tâm thần.

23- Không nói dối, nói xấu người khác.     

24- Không làm ly tán tình cảm người khác.

        25- Không cưỡng bách đàn bà con gái.

26- Không giao hợp với gái có chồng.

27- Không cướp vợ, bắt con người khác.

28- Không hù dọa người.

29- Không lừa gạt, lừa bịp người.

30- Không hại người cô thân, sức yếu…

31- Không lợi dụng người quá sức lao động. 

32- Không a dua, bức hiếp, giết người.

33- Không tham lam, gian dối, xảo trá. 

34- Không trộm cắp, cướp giựt, móc túi.

35- Không chiếm đoạt tài sản người khác.

36- Không cờ bạc, uống rượu, hút thuốc, tà dâm.  

37- Không dùng hay liên quan với ma túy.

38- Không bảo kê, mua bán, môi giới gái mại dâm.

39- Không tắm dưới sông, biển.

40- Không tắm ngoài trời mưa.

41- Không thề nguyền linh tinh…

42- Không la hét lúc mưa giông và giữa trưa

43- Không chửi rủa người khác

44- Không đánh chửi vợ con.

45- Không phá tán tài sản gia đình và của người khác.

46- Không nhìn, nghe chuyện của người khác.

47- Không cải hoặc đánh nhau với người khác.

48- Không vừa đi vừa chạy.

49- Không đi qua dưới đầu võng.

50- Không đi qua dưới dây – sào phơi đồ.

51- Không ra khỏi nhà lúc giờ ngọ và tý. 

52- Không để cho người đi trước – sau đạp lên bóng mình

53- Không gác chân lên cao lúc đứng, ngồi, nằm.

54- Không nằm ngồi tênh hênh.

55- Không tiểu tiện lúc đứng.

56- Không ăn, nói lớn tiếng.

57- Không nói nhảm, cười giởn vô ý.

58- Không nói tục tĩu, chửi thề.  

59- Không chửi thầm hay nói thầm.

60- Không nói chuyện lúc đang ăn uống. 

61- Không ăn uống đổ tháo.

62- Không ăn đêm (sau lúc mặt trời lặn).   

63- Không ăn đồ thừa.

       64- Không ăn đồ cúng vong quỉ, cô hồn các đảng - quỉ ma hay phá hại con người… (cửu quyến thất tổ, thân thuộc  không phải là hàng vong quỉ)…

65- Không ăn quả chuối có hột.

66- Không ăn quả có dấu gậm nhắm.

67- Không ăn quả rụng.

68- Không ăn quả dính đôi.

69- Không ăn quả lép, đèo.  

70- Không ăn quả khế, bầu, bí đao.

71- Không ăn hành, hẹ, tỏi, xả, riềng, rau diếp cá.

72- Không ăn thịt trâu, bò, voi, ngựa, hổ (cọp).

73- Không ăn thịt chó, khỉ.

74- Không ăn thịt mèo, thỏ.

75- Không ăn thịt rùa, ba ba, sam.  

76- Không ăn thịt trăn, rắn.  

77- Không ăn thịt lươn, lịch, ếch, cóc, nhái.

78- Không ăn thịt các loài chim và con dơi.  

79- Không ăn thịt sống như nem chua, gỏi cá, bê thui, v.v.

80- Không ăn con tầm, ong non.

81- Không ăn các loại trứng như tôm, cá, gà, vịt, v.v…

82- Không ăn các trứng lộn như gà, vịt, cút, chim, v.v…

83- Không ăn cá chép, cá đuối, cá không vảy.

84- Không ăn uống tiết động vật.

85- Không uống rượu có ngâm xác động vật.

86- Không ăn phần đầu gà, vịt, chim…

87- Không ăn phần đuôi cá và phao câu gà, vịt…

88- Không ăn nội tạng động vật.  

89- Không ăn nhau thai và bào thai động vật.

90- Không ăn con vật khi thấy đang giết mổ.

91- Không ăn con vật chính mình bảo giết.

92- Không ăn con vật khi chết đang mang thai.

93- Không ăn 12 con giáp…

94- Không giết (chim) mẹ bắt lấy (chim) con…

95- Không bắt lấy (dê) mẹ bỏ (dê) con còn quá nhỏ.

96- Không chọc ghẹo động vật.

97- Không phá hang, tổ động vật.

98- Không bỏ đói khát những súc vật.

99- Không có lý do mà đánh đập hoặc giết động vật... 

 

 
IV - Bài nguyền trước linh đàn:

Ngưỡng vọng Tiên sư, Tổ sư, Tam giáo đạo sư cảm ứng chứng chiếu:  

Hôm nay ngày…… tháng…….. năm …………........

Nhằm ngày………. tháng…… ..năm……………….

Đệ tử tên họ ………………………………………...

Bí danh……………………………………………...

Sinh ngày……….tháng………. năm ………………

Nhằm ngày……..tháng………. .năm ………………

Tên họ cha…………………………………………..

Tên họ mẹ…………………………………………...

Quê quán……………………………………………

Hiện cư ngụ…………………………………………

Đệ tử xin sư phụ……………………………………

Truyền cho bài .…………………………………….

Nguyện vọng: Bảo vệ bản thân; chữa bệnh đau, giúp ích mọi người.  

Đứng trước linh đàn hiển hách Tiên sư, Tổ sư, Tam giáo đạo sư, đệ tử (tên họ… đưa hai tay lên cao khỏi đầu) xin thề một lòng tôn trọng, gìn giữ những gì đã học được hôm nay và suốt đời không sai phạm những điều sau đây:   

1……………………………………………………

2……………………………………………………

3……………………………………………………

 

 

CHƯƠNG BỐN

 

 

36 PHÁP CÔNG PHU

 

ĐỨC THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN DẠY: ''Trong lúc vẽ bùa, niệm chú phải cầu khẩn Tam vị thánh tổ luôn gia hộ hoặc tưởng nhớ đến ông thầy đã dạy cho mình đang đứng trước mặt, không được để tâm nghĩ đến tiền của, vật thực, nữ nhân hay có tà ý khác.”

 

Bài 1 -  Thần Châm Công  

 

* Thần chú này, giúp dùng kim châm nhẹ trên thân thể, để chữa trị rất nhiều thứ đau bệnh, tà khí, tà hành, quỷ ám, v.v…  thật linh nghiệm.

Bài 2 – Kim Châm Công

* Thần chú này, giúp tự dùng kim băng đâm vào thân thể từ một đến hàng trăm cây, để chữa bệnh tim mãn tính, có tính nhút nhát, thiếu tập trung, hoặc vết thương không lành, đang viêm sưng, đau nhức…

 Bài 3 – Xuyên Châm Công

* Những thần chú này, tuỳ thuộc vào sư phụ truyền dạy mà công năng thấp hay cao đều khác nhau… giúp dùng sắt nhọn đâm xuyên qua thân thể hay đóng đinh vào người trong ngày lễ hội dâng cúng thần linh khiến tà ma nhìn thấy liền bỏ chạy thật xa... Còn chữa được các bệnh hay chảy máu, u tụ máu, các chứng viêm, sưng, đau nhức, vết thương nhiễm trùng, làm mau liền da, bệnh tim mạch mãn tính, những người thường kinh sợ, nhút nhát… 


Bài 4 - Ngũ Bổn Thần Công 

 

* Thần chú này, giúp dùng trái chông có rất nhiều gai bằng sắt thật bén nhọn, đánh vào thân thể bệnh nhân, để trừ tà diệt quỷ. Chữa trị các bệnh quỷ ám đã dùng nhiều thứ thuốc từ lâu mà không khỏi.

Bài 5 – Lưu Kim Nội Nhục Công  

* Thần chú này, giúp đặt kim khâu trong thân thể từ 06 – 1.000 cây, khiến cho thân thể phát ánh sáng, có những công năng đặc dị, quyền lực phi thường và để trị những bệnh do tà ma phá hại.  


Bài 6 - Câu Thân Thăng Thiên  Công

* Thần chú này, giúp dùng móc sắt móc vào thân thể người sống treo lên cành cây, dâng cúng lên thần linh 21 ngày... cũng là pháp luyện tinh thần dũng cảm, giúp cơ thể tăng hệ miễn dịch rất cao, cơ thể khoẻ mạnh, tâm trí sáng suốt và khiến cho bọn tà ma nhìn thấy liền bỏ chạy không dám đến gần. 

Bài 7 – Bí Tắc Thần Công

* Thần chú này, giúp sự tập trung tư tưởng cao độ, để chữa tất cả các loại bệnh do ma tà phá hại. Giúp điều chân chánh còn mãi việc gian dối biến mất (chánh tồn tà diệt), khiến kẻ gian ác hay người lầm lở tự biết lỗi mà trở về nẽo chân chánh, thành người hiền lương thường làm những điều nhân đức (cải tà quy chánh).

 Bài 8 - Quá Hoả Diệm Sơn Công  

* Thần chú này, giúp các bệnh nhân đi trên bải lửa than dài từ 4 - 8 m đang cháy đỏ, để chữa trị các bệnh tà hành quỷ ám kinh niên, những người có các loại bệnh đau không rõ nguyên nhân…

 

Bài 9 – Thượng Toà  Đao Kiếm Công

* Thần chú này, giúp người đứng, ngồi và nằm trên lưỡi đao kiếm không bị hại, để trấn trừ các yêu tinh, quỷ quái thường tụ tập gây ra âm khí phá an dân lành.


Bài 10 – Mộc Dục Hoả Du Công

* Thần chú này, giúp người bệnh tắm dầu sôi khiến cho cơ thể trong sạch, tâm linh càng sáng ngời, ma tà khi thấy nghe đến họ tên đều khiếp sợ, lánh xa.


Bài 11 – Thượng Toà Bình An Công

* Thần chú này, giúp người đứng, nằm, ngồi trên mũi đao kiếm, bàn chông, mảnh chai (thuỷ tinh) không bị hại và khiến cho ma tà không dám xâm phạm.

 Bài 12 – Kim Cang Thân Công

 

* Thần chú này, giúp cho thân thể thật khỏe mạnh và cứng chắc (gồng), có thể dùng các vật đập vào người hay dây sắt quấn quanh mà không thể tổn hại... và khiến cho tà ma không dám khinh thường.

 Bài 13 – Kim Tư  Thần Công   

* Thần chú này, giúp dùng một sợi chỉ thật nhỏ (chỉ may áo) kéo những phẫm vật của Quốc vương như xe chở trâu, dê, cừu và thật nhiều thứ hàng hóa, vật thực quý giá dâng lên cúng bái thần linh, trong các lễ hội và khiến cho tà ma khiếp sợ.

 Bài 14 – Thần Lực Công

* Thần chú này, giúp người có sức mạnh vô địch, chiến thắng kẻ ác, khiến cho tà ma nể sợ.  

 Bài 15 – Phạt Khô Mộc Công

* Thần chú này, giúp dùng bàn tay chẻ gỗ, bửa củi, thể hiện sự oai lực khác thường của thần linh, khiến cho tà ma phải kính phục không dám quấy nhiểu. 

             Bài 16 – Thượng Đàn Chỉ Vũ Công

* Thần chú này, giúp người vũ công đứng trên tờ giấy mỏng, múa hát dâng cúng trò vui lên thần linh trong buổi lễ hội và tà ma cũng thêm vui vẻ không phá tán dân lành.


Bài 17 – Sương Giáng Công

 

* Thần chú này, giúp làm sương rơi để tắm rửa cho dân chúng trước khi vào lễ hội cúng bái thần linh, khiến cho bọn tà ma tiêu tán.    

Bài 18 – Phong Vũ Công

 

* Thần chú này, giúp cho mưa to, gió mạnh hơn, khiến cho tà ma khiếp sợ tìm nơi trú ẩn không phá hại dân lành.

 

Bài 19 – Hàn Lãnh Công

* Thần chú này, giúp những đồ vật dâng cúng thần linh luôn giá lạnh, nên để lâu ngày không bị hư thối, cũng khiến cho tà ma không dám xuất đầu lộ diện phá tán nhân dân.

 

Bài 20 – Hoả Nhiệt Công   

 

* Thần chú này, giúp làm nơi trú ngụ của tà ma nóng lên, âm khí không còn nên tà ma phải bỏ đi chỗ khác, không dám trở lại phá tán dân lành.

 

Bài 21 – Đoạt Hồn Công

 

* Thần chú này, làm cho người bất tỉnh không còn nhận biết thứ gì, khiến cho tà ma không nhập vào bệnh nhân quậy phá được nữa mà phải bỏ chạy trốn mất.

 

Bài 22 – Bất Đông Thống Công

 

* Thần chú này, chữa trị các chứng đau nhức lâu ngày do tà ma phá hại và khiến cho tà ma phải khiếp sợ bỏ đi nơi khác.

 

Bài 23 – Cử Quyền Công

 

* Thần chú này, giúp tay chân hoạt động bình thường, chữa tay chân bị tê liệt không hoạt động do tà ma phá hại và khiến cho tà ma phải khiếp sợ.


Bài 24 –Thoát Thần Công

 

* Thần chú này, giúp người nhịn ăn lâu ngày để tu luyện các pháp cao siêu, điều khiến ngũ tạng, lục phủ và năm giác quan đi vào trạng thái không hoạt động rất lâu dài (thoát thần hay vô thức), khiến cho các loại yêu tinh, tà ma nhìn thấy đều phải kính phục quy hàng.  

Bài 25 – Thôi Xa Công

 

* Thần chú này, giúp kéo xe chở lễ vật thật to lớn, rất nặng của giúp Quốc vương lên núi cao dâng cúng thần linh, khiến cho tà ma khiếp sợ.


Bài 26 – Hạ Thuyền Công

 

* Thần chú này, giúp đưa thuyền, đẩy ghe mới của Quốc vương xuống sông, khiến cho tà ma phải tránh xa.      

 

Bài 27 – Khởi Xa Thượng Thân Công

 

* Thần chú này, giúp người vượt qua tai nạn do xe và ngựa chạy cán, đạp lên thân thể, khiến cho tà ma phải khiếp sợ. 

 

Bài 28 – Hàng Ti Nhất Điểm Công

* Thần chú này, giúp thân thể bình an không bị tổn thương khi những vật bén và nhọn đâm vào, khiến cho tà ma khiếp sợ không dám động chạm đến và phải bỏ di nơi khác. 

 

Bài 29 – Thiết Bối Sam Công

 

* Thần chú này, giúp lưng cứng như sắt, cơ thể đủ sức chịu đựng khi các vật nặng đè ép, khiến cho tà ma phải khiếp sợ.     

Bài 30 – Thiết Đầu Công

 

* Thần chú này, giúp đầu cứng như sắt, khiến cho tà ma phải khiếp sợ tránh xa nơi khác. 

 

Bài 31 – Nhập Linh Công

 

* Thần chú này, giúp đặt tượng Phật hoặc vật linh vào thân thể, khiến cho tà ma phải kính phục.  

 

Bài 32 -  Nhập Thuỷ Công  

 

* Thần chú này, giúp người đi qua sông không bị nạn, hay ngồi nằm trong nước sâu hàng giờ, khiến cho tà ma đều khiếp sợ.

 

 Bài 33 – Kiến Phụ Mẫu Công 

- Thiền định được một ngày một đêm thì thình lình xuất thần đi

* Các Thần chú này, giúp người có lòng hiếu thảo nhìn thấy hương hồn của cha mẹ, những người thân hoặc các vong linh còn đang phiêu bạt và hài cốt xiêu mồ lạc mã, khiến cho bọn quỷ ma đều kính phục.

 

Bài 34 – Phá Xiềng Công

 

* Thần chú này, giúp người tỉnh trí, thoát khỏi sự nguy khốn do tà ma dẫn đem cất giấu, giam cầm... và khiến cho tà ma phải khiếp sợ nát tim, tan mật.

 

Bài 35 – Phi Hành Công

 

* Thần chú này, giúp người đi rất nhanh, khiến cho tà ma kinh sợ một lòng quy phục.

 

Bài 36 –  Ẩn Thân Công

 

* Thần chú này, giúp người ẩn mình để tránh khỏi những nạn tai do tà ma vây khốn, và khiến cho chúng phải kính phục. 

 

Bài 37 – Hiện Thân Công

 

* Thần chú này, khiến có người tự nhiên đến và đem những niềm vui giúp ích mọi nhà không còn sự buồn phiền, luôn thương yêu nhau và có những hạnh phúc. Khiến cho tà ma phải bỏ đi nơi khác.                    

 

Bài 38 – Thần Chú Tàng Hình 

 

* Thần chú này, có tác dụng hộ thân, giúp người có những công năng đặc dị và thượng lộ bình an. Khiến cho tà ma không phá hại.

 

 


LÃO TỬ: (*)

Lão: Già, ông già. Tử: thầy.

Đức Lão Tử là Giáo chủ của Lão giáo (Tiên giáo ).

Đức Lão Tử là chơn linh của Đức Thái Thượng Đạo Tổ giáng trần vào thời nhà Thương bên Tàu.

Đức Thái Thượng Đạo Tổ, còn gọi là Đức Thái Thượng Đạo Quân, là Đấng do khí Tiên Thiên hóa sanh thuở chưa tạo Thiên lập Địa.

Tiên Thiên Khí hóa,
    Thái Thượng Đạo Quân.
(Kinh Tiên giáo)

Đức Thái Thượng Đạo Tổ là Ông Thủy Tổ của Đạo Tiên. Ngài có pháp lực vô biên, biến hóa vô cùng, khi hiện xuống cõi trần để độ những người có duyên phần, khi trở về cõi Thượng Thiên.

Theo sách Tam Hoàng Thiên Kinh, Đức Thái Thượng hiện xuống cõi trần rất nhiều lần, kể ra sau đây:

Vào thời Thái cổ nước Tàu:

·     Đời Thiên Hoàng Thị, Ngài là Bàn Cổ.

·     Đời Địa Hoàng Thị, Ngài là Vạn Pháp Thiên Sư.

·     Đời Nhơn Hoàng Thị, Ngài là Đại Thanh Tử.

Vào thời Thượng cổ, cũng ở nước Tàu:

·     Đời vua Phục Hy, Ngài là Huất Hoa Tử.

·     Đời vua Thần Nông, Ngài là Xích Tùng Tử.

·     Đời vua Huỳnh Đế, Ngài là Quảng Thành Tử.

·     Đời vua Thiếu Hạo, Ngài là Tùy Ưng Tử.

·     Đời vua Chuyên Húc, Ngài là Xích Tinh Tử.

·     Đời vua Nghiêu, Ngài là Vụ Thành Tử.

·     Đời vua Thuấn, Ngài là Y Thọ Tử.

·     Đời vua Hạ Võ, Ngài là Chân Hành Tử.

·     Đời vua Thành Thang, Ngài là Tích Tắc Tử.

Đến đời vua Võ Đinh nhà Thương (1324 trước Tây lịch), Đức Thái Thượng Đạo Tổ mới giáng sanh xuống trần là Lão Tử. Việc giáng sanh của Ngài rất huyền diệu phi thường.

Theo truyền thuyết kể lại, vào đời vua Bàn Canh nhà Thương (1461 trước Tây lịch), có một nàng con gái gọi là Ngọc Nữ vừa được 8 tuổi, con của một gia đình đạo đức, ra chơi sau vườn, thấy trên cây lý có một trái chín thật ngon, cô liền hái ăn. Ăn xong, cô cảm thấy mỏi mệt và có thai.

Cha của Ngọc Nữ thấy sự lạ kỳ, liền toán quẻ Âm Dương, đoán biết có một vị Đại Tiên giáng trần trong bụng con gái của mình, nên mừng rỡ và nuôi con gái rất kỹ.

Nàng Ngọc Nữ chịu mang thai như vậy mãi cho đến già mà không đẻ. Đến năm Ngọc Nữ 80 tuổi, tức là đã mang thai ngót 72 năm, lúc đó đã qua 3 đời vua nhà Thương là: Vua Bàn Canh, vua Tiểu Tân, vua Tiểu Ất, và bắt đầu đời vua Võ Đinh (1324 trước TL), Bà Ngọc Nữ thấy trăng tỏ, bèn đi dạo chơi nơi vườn. Khi đi ngang cội cây lý ngày xưa thì đứa con từ trong bụng theo nách mẹ nhảy ra ngoài. Bà giựt mình kinh hãi, coi lại nách mình liền lại như thường. Đứa con nhảy ra, đã ở trong bụng mẹ 72 năm nên đầu tóc bạc trắng, mới gọi là Lão Tử (con già). Lúc đó là giờ Sửu ngày15 tháng 2 âm lịch năm Canh Thìn.

Lão Tử chỉ cây Lý bảo rằng đó là họ của Ngài. Ngài xưng hiệu là Lão Đam, tự là Bá Đương, lại mỗi bên tai có 3 lỗ nên còn gọi Ngài là Lý Nhĩ.

Ngài có miệng rộng, răng thưa, thiên đình cao, râu tốt, mắt vắn, tai dài, sóng mũi cao lớn như chẻ hai, trên trán có đường nhăn như 3 chữ Tam Thiên.

Cội cây Lý, nơi giáng sanh của Đức Lão Tử, ở tại xóm Khúc Nhơn, làng Lại, huyện Khổ, nước Sở, ngày nay thuộc tỉnh An Huy và tỉnh Hồ Nam.

Do đó, trong Kinh Tiên giáo có câu:

 

Nhị ngoạt thập ngũ,
Phân tánh giáng sanh.

Nghĩa là:

Ngày 15 tháng 2,
Chiết chơn linh giáng sanh xuống cõi trần.

 

Đức Lão Tử có giáng cơ cho biết năm giáng sanh của Ngài trong 4 câu thơ sau đây:

LÝ đào mầm tược tượng long lân,
      LÃO luyện đơn thành nhị xác thân.
      TỬ phủ ngồi tu lo nấu thuốc,
      GIÁNG sanh Thương đợi Võ Đinh quân.

Khoán thủ 4 chữ: Lý Lão Tử giáng, và câu thơ chót có nghĩa là: Giáng sanh vào thời nhà Thương, đợi đến vua Võ Đinh mới chào đời.

Hết thời nhà Thương, qua đến thời nhà Châu, đời vua Thành Vương (1115 trước TL), Lão Tử có ra làm quan Trụ Hạ Sử tại Tàng Thư Viện nhà Châu để có cơ hội nghiên cứu Thái Cực Đồ. Ngài độ được Từ Giáp là người giữ Tàng Thư Viện, và sau đó, hai thầy trò từ chức để đi dạo các nước Thiên Trúc và Tây phương. Đến đời vua Châu Khương Vương, nối tiếp vua Thành Vương, Lão Tử trở về, đặng 3 năm thì Ngài lại đi giáo đạo miền Tây vức. Ngài ngồi xe trắng trâu xanh do Từ Giáp đánh xe, khi đến ải Hàm Cốc, quan Doãn giữ ải tên là Hỷ (nên thường gọi là Doãn Hỷ) coi Thiên văn biết có một vị Đại Thánh sắp đi qua ải, nên chuẩn bị mặc triều phục nghinh tiếp. Khi thấy Đức Lão Tử tới, biết Ngài là Thánh nhân nên tôn Đức Lão Tử làm thầy, xin theo học đạo.

Nguyên Ông quan Doãn Hỷ nầy là chơn linh của Nguơn Thủy Thiên Tôn giáng trần. Khi Bà mẹ có nghén Ông thì chiêm bao thấy một đoạn lụa đỏ từ Trời sa xuống vấn quanh mình, sau sanh ra Doãn Hỷ thì thấy sen mọc quanh nhà trổ bông. Ngài lớn lên, con mắt sáng như sao, râu dài, tướng tốt, có tài xem Thiên văn. Khi làm quan Doãn giữ ải Hàm cốc, Doãn Hỷ nhìn lên bầu Trời thấy một vầng mây tím bay ngang từ huớng Đông qua hướng Tây, Ngài biết đó là điềm có Thánh nhân sắp qua ải đi về hướng Tây, nên chuẩn bị chu đáo để nghinh tiếp.

Do đó, trong Kinh Tiên giáo có câu:

 

Tử khí đông lai,
Quảng truyền Đạo Đức.

Nghĩa là:

Vầng khí mây màu tím từ hướng Đông bay tới,
Rộng truyền Kinh Đạo Đức.

 

Nhắc lại, khi Lão Tử đến ải Hàm Cốc, thấy Doãn Hỷ có lòng thành nên bằng lòng ở lại Hàm Cốc ngót ba tháng để dạy đạo cho Doãn Hỷ.

Khi thấy Đức Lão Tử chuẩn bị ra đi thì Doãn Hỷ bạch thầy xin cho biết danh tánh và tình nguyện đi theo thầy.

Đức Lão Tử đáp:

- Ta sanh ra đã nhiều đời, tên họ có biết bao nhiêu mà kể. Hiện thời, người đời gọi Ta là Lão Tử. Ngươi có lòng muốn theo Ta, song ngươi mới tu luyện còn non, chưa từng biến hóa thần thông, thì theo Ta sao đặng. Ngươi cứ tu hành theo phép đã dạy cho lâu thì sau nầy cũng được như Ta, đi đâu cũng đặng.

Nói rồi, Đức Lão Tử truyền cho Doãn Hỷ quyển sách Đạo Đức Kinh gồm 5363 chữ, dặn rằng:

- Ngươi cứ theo sách nầy mà học, tu đúng phép 1000 ngày, rồi đi qua nước Thục, tìm Ta tại chợ Thanh Dương. Nói xong, Đức Lão Tử lên xe trắng trâu xanh, Từ Giáp đánh xe, hiện hào quang đi về hướng Tây mất dạng.

Doãn Hỷ ngó theo thầy, lạy tạ.

Sau đó, Doãn Hỷ cứ học theo Đạo Đức Kinh mà tu, lâu ngày trở nên thông huệ, tự viết ra được một cuốn sách gồm 36 bài gọi là Kinh Tây Thăng.

Gần đến kỳ ước hẹn với thầy, Doãn Hỷ sửa soạn đi tìm thầy y như lời thầy đã dặn. Khi đến nước Thục, Doãn Hỷ hỏi thăm chợ Thanh Dương ở đâu thì không một ai biết cả.

Lúc ấy, Đức Lão Tử đã trở lại Thiên Cung, rồi lại xuống trần đầu kiếp vào nhà họ Lý ở nước Thục, là nhà đạo đức hiền lương. Khi vợ họ Lý sanh được bé trai ít tháng thì có một con dê xanh (Thanh dương) đến chơi giỡn với bé. Đó là Đức Lão Tử dặn con Thanh dương ở Thiên cung hiện xuống.

Ngày kia con dê xanh chạy đâu mất, cậu bé khóc hoài. Họ Lý phải sai đầy tớ đi khắp nơi tìm kiếm, bắt gặp dê xanh dẫn về, đi ngang qua một cái chợ.

Doãn Hỷ đang lúc hỏi thăm để tìm chợ Thanh dương, bỗng thấy có người dắt con dê xanh đi qua chợ, liền chợt nghĩ rằng chắc thầy mình đang ở chỗ nầy. Nghĩ vậy, Doãn Hỷ liền chạy theo người dắt dê xanh hỏi:

- Chú dắt con dê nầy đi đâu vậy?

Người ấy đáp:

- Chủ tôi có sanh một cậu trai, cách ít tháng có con dê nầy tới chơi với cậu nhỏ. Bữa kia nó đi mất, cậu nhỏ cứ khóc hoài. Chủ tôi sai tôi đi tìm kiếm mà dắt về.

Doãn Hỷ đi theo người đầy tớ ấy đến nhà thì bảo người đầy tớ:

- Chú vào thưa với cậu nhỏ là có Doãn Hỷ đến tìm.

Anh đầy tớ cười thầm: Cậu nhỏ chưa giáp thôi nôi, biết chi mà thưa với gởi, nhưng anh ta cũng vào nói:

- Có Doãn Hỷ đến tìm cậu.

Cậu bé nghe nói thế liền ngồi dậy đáp:

- Doãn Hỷ y lời, không đến trễ.

Kế đó Doãn Hỷ bước vào. Bỗng thấy cậu bé vùng lớn lên như người thường, ngồi trên tòa sen, hào quang sáng lòa. Cả nhà đều kinh hãi. Người ấy nói:

- Ta là Lão Tử đầu thai một lần nữa.

Doãn Hỷ mừng rỡ, đến lạy thầy. Lão Tử nói:

- Khi trước, Ta chẳng dắt ngươi theo vì sợ ngươi tu không bền chí. Nay ngươi đã tu luyện kỹ lưỡng, hào quang ẩn ẩn muốn lòa.

Nói rồi, Đức Lão Tử niệm chú, truyền cho Thần Tiên xuống hầu, phong Doãn Hỷ phục chức Nguơn Thủy Chưởng giáo, cai trị 8 vạn Thần Tiên, lại truyền phép cho cả nhà họ Lý tu thành Tiên hết thảy.

Về sau, đến đời vua Châu Kỉnh Vương, Đức Khổng Tử qua kinh đô nhà Châu học Lễ, nghe nói có Đức Lão Tử tại đó, liền đến xin ra mắt và hỏi Đức Lão Tử về Lễ. (Chuyện gặp gỡ nầy có chép trong sách Sử Ký của Tư Mã Thiên).

Đức Khổng Tử chủ trương theo các nghi lễ của các vua đời trước, nhưng Đức Lão Tử bác bỏ ý kiến đó, nói rằng:

- Những người mà Ông nói đó đều tan xương nát thịt cả rồi, chỉ còn lời nói của họ mà thôi. Vả lại, người quân tử gặp thời thì xe ngựa nghinh ngang, không gặp thời thì tay vịn nón lá mà đi chơn không. Tôi nghe nói: Người buôn giỏi thì biết giấu của báu, khiến người ta thấy dường như không có hàng; người quân tử có đức tốt thì diện mạo thường như ngu si. Ông nên bỏ cái khí kiêu ngạo cùng cái lòng ham muốn nhiều, cái vẻ hăm hở cùng cái khí tham lam đi, những thứ ấy đều không ích chi cho Ông. Tôi chỉ nói với Ông có thế thôi.

Đến khi Đức Khổng Tử cáo từ, Đức Lão Tử tiễn Đức Khổng Tử ra cửa và nói:

- Tôi nghe nói: Người giàu sang lấy tiền bạc để tiễn nhau, người nhân đức dùng lời nói để tiễn nhau. Tôi không thể làm người giàu sang, nhưng trộm lấy tiếng là người nhân đức, xin có lời nầy tiễn Ông: Kẻ thông minh và sâu sắc là gần cái chết vì họ khen chê người ta một cách đúng đắn; kẻ giỏi biện luận, đầu óc sâu rộng làm nguy hiểm đến thân mình vì họ nêu lên cái xấu của người khác. Kẻ làm con không có cách nào để giữ mình, kẻ làm tôi cũng không có cách gì để giữ mình.

Ý của Đức Lão Tử, khi nói ra các lời trên với Đức Khổng Tử, là Ngài chống lại sự thông minh, sự Trung và sự Hiếu, là những nguyên lý mà Đức Khổng Tử đang chủ trương, bởi vì: Có trí khôn thì dễ nguy, nếu cứ theo Trung và Hiếu thì cứ hoàn toàn bị lệ thuộc vào vua và vào cha mẹ, khó lòng được sống tự do tự tại, ung dung thơ thới.

Đức Khổng Tử ra về, nói với các học trò:

- Con chim, ta biết nó bay; con cá ta biết nó lội, con thú ta biết nó chạy. Đối với loài chạy thì ta có thể dùng lưới để săn, đối với loài lội thì ta có thể dùng câu để bắt, đối với loài bay thì ta có thể dùng cung tên mà bắn, đến như con rồng cỡi mây cỡi gió lên Trời, ta không sao biết được. Hôm nay, gặp được Lão Tử, Ông ta có lẽ là con rồng chăng?

Kể từ đó về sau, Đức Lão Tử không đầu thai xuống trần nữa. Khi biết người nào có duyên phần thì Ngài dùng thần thông hiện xuống cõi trần để dạy đạo cho người ấy tu luyên, rồi Ngài trở lại Cung Tiên.

Đến đời nhà Tấn, Đức Lão Tử có hiện xuống xưng là Hà Thượng Công dạy An Kỳ học đạo.

Đến đời vua Hán Văn Đế, Đức Lão Tử hiện xuống trần, xưng là Quảng Thành Tử. Hán Văn Đế rất mộ đạo, sai sứ đến rước về triều. Quảng Thành Tử nói:

- Lẽ nào không đích thân tới rước mà lại sai sứ đến?

Sứ giả về tâu lại, Hán Văn Đế đến gặp Quảng Thành Tử, nhà vua nói:

- Ở trong nước là bề tôi của vua, thầy tuy có đạo mặc dầu, song cũng là dân của Trẫm, sao không chịu sụt lại một chút mà làm kiêu như vậy? Hay là Trẫm không làm được họa phước cho thầy chăng?

Quảng Thành Từ nghe vua nói như vậy, liền cất mình bay lên cao độ 100 thước, ngồi trên thinh không, ngó xuống nói với vua Hán Văn Đế rằng:

- Nay, trên chẳng tới Trời, dưới chẳng tới Đất, Bệ hạ làm họa phước cho ta sao đặng.

Vua Hán Văn Đế biết lỗi, liền bước xuống xe làm lễ, xin thọ giáo. Quảng Thành Tử đưa cho nhà vua một cuốn kinh bảo cứ học theo đó mà tu luyện.

Qua đến đời vua Hán Thành Đế, Đức Lão Tử lại hiện xuống tại suối Khúc Dương, truyền đạo cho Vu Kiết.

Đời vua Hán An Đế, Đức Lão Tử truyền Kinh Tội Phước Tân Khoa cho Lưu Tiên.

Đời vua Hán Trinh Đế, Đức Lão Tử hiện xuống truyền Kinh Bắc Đẩu cho Trương thiên Sư.

Đời vua Hán Hoàn Đế, Đức Lão Tử hiện xuống núi Thiên Thai truyền Kinh Bác Động cho Vạn Niên Tiên sinh.

Đời vua Hán Linh Đế, Đức Lão Tử hiện xuống truyền kinh cho Trương Thiên Sư một lần nữa.

Qua đời nhà Đường, Đức Lão Tử hiện xuống tại núi Dương Giác, truyền đạo cho Đường Công.

Đời vua Đường Cao Tổ, có người ở Phổ Châu, tên là Thiện Hành, đi ngang qua núi Dương Giác, gặp một Ông già mặc áo trắng, gọi đến nói rằng:

- Ngươi về tâu lại với Đường Thiên tử: Thái Thượng Lão Quân là Ông nội.

Đường Cao Tổ hay tin, liền lập miếu thờ tại núi Dương Giác, và tôn Đức Lão Tử là "Huyền Nguơn Hoàng Đế".

Hồi thời nhà Châu, Đức Lão Tử có hiện xuống truyền đạo cho Ông Lý Ngưng Dương, tu hành đắc đạo thành Tiên, hiệu là Lý Thiết Quày (thường gọi là Lý Thiết Quả), đứng đầu Bát Tiên.

Đức Thái Thượng Đạo Tổ có một kiếp giáng sanh xuống trần là Lão Tử, nên Ngài được gọi là Thái Thượng Lão Quân.

Tóm lại, từ thời tạo dựng Trời Đất và có nhơn loại đến nay, không có thời nào mà Đức Thái Thượng Đạo Tổ không giáng trần để độ những người có căn lành tu hành đắc đạo.

Ngài do Khí Tiên Thiên hóa sanh, nên Ngài có pháp thuật vô biên, biến hóa vô cùng, khi hiện xuống cõi trần, khi trở về cõi Thượng Thiên, khi đầu thai xuống trần mang xác phàm để dễ truyền đạo và giáo hóa nhơn sanh. 

 

CỬU THIÊN HUYỀN NỮ (*)

Cửu Thiên Huyền Nữ - Cửu Thiên Nương Nương:

Cửu: Chín, thứ chín. Thiên: từng Trời. Huyền: sâu kín, huyền diệu, mầu nhiệm. Nữ: người phụ nữ.

Nương Nương: tiếng gọi bà Hoàng Hậu ở thế gian; còn nơi cõi thiêng liêng, Nương Nương là tiếng gọi người phụ nữ cao trọng nhứt, đó là Ðức Thiên Hậu, Ðức Mẫu Hậu mà Ðạo Cao Ðài thường gọi là Ðức Phật Mẫu.

Cửu Thiên là từng Trời thứ 9, từng Trời cao nhất trong Cửu Trùng Thiên, có tên là Tạo Hóa Thiên.

Cửu Thiên Huyền Nữ, nghĩa đen là người phụ nữ huyền diệu nơi từng Trời thứ 9. Ðây là một danh hiệu của Ðức Phật Mẫu.  

Cửu Thiên Nương Nương, nghĩa đen là Ðấng Thiên Hậu ở từng Trời thứ 9. Ðây cũng là một danh hiệu của Ðức Phật Mẫu.

Nhơn loại được biết Ðức Phật Mẫu qua danh hiệu Cửu Thiên Huyền Nữ vào thời thượng cổ, đời vua Hiên Viên Huỳnh Ðế bên Tàu. Sử ký chép như sau:

Sau đời vua Thần Nông, các bộ lạc đều tự tách ra hùng cứ mỗi nơi. Có một bộ lạc hùng mạnh mà vị thủ lãnh là Xuy Vưu muốn thôn tính các bộ lạc khác để lên làm bá chủ, nhưng Xuy Vưu lại quá độc ác, ai không thuận theo thì bị giết chết rất tàn nhẫn. Các bộ lạc liền liên kết nhau, tôn vị thủ lãnh Hữu Hùng Thị (nay ở huyện Tân Trịnh tỉnh Hà Nam) lên chỉ huy chống lại Xuy Vưu. Trận đánh dữ dội quyết định sự thắng bại với Xuy Vưu xảy ra ở Trác Lộc. 

Sương mù dày đặc, quân Hữu Hùng Thị bị Xuy Vưu vây chặt, không nhận định được phương hướng đánh ra giải vây, nên thường bị Xuy Vưu đánh bại phải tháo lui. Sự thảm bại của Hữu Hùng Thị thấy rõ trước mắt.

Trong lúc nguy cấp như thế, Ðấng Cửu Thiên Huyền Nữ hiện ra dạy Hữu Hùng Thị chế ra xe hai bánh chỉ Nam, có bộ phận chỉ rõ hướng Nam, để phân định phương hướng và vị trí tiến quân, lại dạy cho binh pháp. Nhờ vậy, Hữu Hùng Thị củng cố binh mã, từ trong đánh ra bất ngờ, làm cho binh đội Xuy Vưu thảm bại, bắt sống được thủ lãnh Xuy Vưu đem giết chết.

Thế là yên giặc, tất cả dân chúng các bộ lạc đều hoan nghinh Hữu Hùng Thị, tôn Hữu Hùng Thị lên ngôi Minh chủ, lấy hiệu là Hoàng Ðế hay Huỳnh Ðế. Nguyên Hữu Hùng Thị được sanh ra tại gò Hiên Viên, nên về sau gọi là Hiên Viên Huỳnh Ðế.

Sau đó, Ðấng Cửu Thiên Huyền Nữ cũng thường ứng hiện giúp vua Huỳnh Ðế và những người hiền tài trong nước, như giúp Hoàng Hậu Nguyên Phi chế ra nghề nuôi tằm lấy tơ dệt lụa, giúp ông Dung Thành chế ra máy Cai Thiên để xem Thiên tượng, giúp ông Thương Hiệt chế ra chữ viết tượng hình để thay cho việc thắt nút ghi nhớ các sự việc.

Ngoài ra Ðấng Cửu Thiên Huyền Nữ truyền khoa Lục Nhâm Ðộn Giáp, và phép bói 64 quẻ Dịch mà đoán kiết hung...    

 

Diêu Trì Kim Mẫu  (*)

- Phật Mẫu Diêu Trì: 

Kim Mẫu: là từ nói tắt của danh hiệu: Kim Bàn Phật Mẫu, nghĩa là Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung. Kim Bàn hay Kim Bồn là nơi Đức Phật Mẫu chứa các nguyên chất để tạo ra chơn thần cho vạn linh.

Đây là hai danh hiệu của Đức Phật Mẫu.

* Diêu Trì Kim Mẫu là Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung.

* Phật Mẫu Diêu Trì là Đức Phật Mẫu ở Diêu Trì Cung.

Đức Phật Mẫu là ai?

Quyền năng của Đức Phật Mẫu

Sự tích: Hớn rước Diêu Trì

I. Đức Phật Mẫu là ai?

Theo Vũ trụ quan của Đạo Cao Đài, khi chưa có Trời Đất, còn trong thời kỳ Hỗn Mang hay Hồng Mông, trong vũ trụ chỉ có một chất khí hỗn độn, mờ mờ mịt mịt, lặng lẽ vô vi, thanh trược hỗn hợp, nhưng vô cùng huyền diệu, gọi là Khí Hư Vô (còn gọi là Tiên Thiên Hư Vô chi Khí).

Khí Hư Vô ấy lần lần ngưng kết rồi nổ ra một tiếng thật lớn, sanh ra một khối Đại Linh Quang, cũng gọi là Thái Cực, trọn lành trọn tốt, toàn tri toàn năng, thiên biến vạn hóa, vô tận vô cùng.

Vũ trụ từ đây bắt đầu có một ngôi Thái Cực duy nhứt, là Đại Hồn của một Đấng duy nhứt được gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế mà chúng ta thường gọi là Đức Chí Tôn.

Đức Chí Tôn phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi: Dương Quang và Âm Quang. Đức Chí Tôn chưởng quản Khí Dương Quang, còn Khí Âm Quang chưa có ai chưởng quản, vì Càn khôn Vũ trụ lúc bấy giờ chỉ có một mình Đức Chí Tôn mà thôi. Đức Chí Tôn mới hóa thân ra Đức Phật Mẫu để chưởng quản Khí Âm Quang.

Vậy, nguồn gốc của Đức Phật Mẫu là một hóa thân đầu tiên của Đức Chí Tôn để làm chủ Khí Âm Quang, cầm phân nửa quyền lực của Đức Chí Tôn và luôn luôn tùng theo mạng lịnh của Đức Chí Tôn. (Khi Đức Chí Tôn tạo dựng ra Càn khôn Vũ trụ tới đâu thì Đức Chí Tôn tiếp tục hóa thân ra các Đấng khác để chưởng quản tới đó).

Vũ trụ tới đây đã có 2 khối chất khí vĩ đại là Dương Quang và Âm Quang, và có 2 Đấng đầu tiên cầm quyền Càn khôn Vũ trụ là Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu.

Sau đó, Đức Phật Mẫu vâng lịnh Đức Chí Tôn, thâu lằn sanh quang của ngôi Thái Cực, rồi đem Âm Quang phối hợp với Dương Quang để tạo hóa ra các từng Trời, các quả Tinh cầu và các Địa cầu, tạo thành Càn khôn Vũ trụ.

Tiếp theo, Đức Phật Mẫu tạo hóa ra Vạn linh nơi cõi Thiêng liêng vô hình. (Vạn linh gồm đủ Bát hồn: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn, Phật hồn).

Rồi Đức Phật Mẫu lại cho Vạn linh đầu kiếp xuống các Địa cầu tạo thành Vạn vật, tức là Chúng sanh. (Chúng sanh gồm: Kim thạch, Thảo mộc, Thú cầm, Nhơn loại).

PMCK: Bát hồn vận chuyển hóa thành chúng sanh.

* Mỗi một người nơi cõi thiêng liêng đều có 2 thể:

·        Một Chơn linh, tức là Linh hồn, do Đức Chí Tôn ban cho. Chơn linh nầy chỉ là một điểm Linh quang do Đức Chí Tôn chiết ra từ khối Đại Linh quang của Ngài, ban cho mỗi người để con người có được Tánh linh, có được sự sống và biết gìn giữ sự sống ấy.

·        Một Chơn thần, tức là một Xác thân thiêng liêng hay Hình hài thiêng liêng, do Đức Phật Mẫu tạo ra và ban cho để làm hình thể vô vi, bao bọc Chơn linh.

Do đó, con người nơi cõi thiêng liêng gọi Đức Chí Tôn là Đại Từ Phụ, gọi Đức Phật Mẫu là Đại Từ Mẫu. Ấy là 2 Đấng CHA MẸ chung thiêng liêng vĩ đại nơi cõi Hư linh.

Khi con người ấy đầu kiếp xuống cõi phàm trần thì Chơn linh và Chơn thần của người ấy liền nhập vào thai nhi ngay lúc được sanh ra từ trong bụng bà mẹ phàm trần. Vậy:

* Một con người nơi cõi phàm trần có 3 thể:

·        Chơn linh (đã giải ở trên) do Đức Chí Tôn ban cho.

·        Chơn thần (đã giải ở trên) do Đức Phật Mẫu tạo ra.

·        Xác thân phàm trần do cha mẹ phàm trần tạo ra.

Như thế, một con người nơi cõi phàm trần, ngoài hai Đấng CHA MẸ chung thiêng liêng, còn có thêm hai vị cha mẹ phàm trần nữa.

Tóm lại, toàn cả chúng sanh trong CKVT hay toàn cả Vạn linh, đều là con cái của Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu, dầu cho đó là những vị Phật cao siêu như Đức Phật Thích Ca, Đức Phật Di-Lạc, Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử, Đức Chúa Jésus, vv...Tất cả đều là con cái của Đức Chí Tôn và Phật Mẫu.

Hiện nay, Đức Phật Mẫu ngự tại Cung Diêu Trì, ở từng Trời Tạo Hóa Thiên, là từng Trời thứ 9 trong Cửu Trùng Thiên.

Theo DLCK, Đức Phật Mẫu cùng các vị Phật: Quảng Sanh Phật, Dưỡng Dục Phật, Chưởng Hậu Phật, Thủ Luân Phật, với Cửu vị Nữ Phật, và hằng hà sa số chư Phật khác, thường đi đến các cõi trần để dưỡng dục chúng sanh qui nguyên Phật vị.

Đức Phật Mẫu được nhơn loại tôn xưng bằng nhiều danh hiệu khác nhau, tùy theo tín ngưỡng tôn giáo, dân tộc và địa phương, kể ra như sau đây:

·        Phật Mẫu, vì là MẸ thiêng liêng của toàn cả Vạn linh và Chúng sanh.

·        Diêu Trì Kim Mẫu, vì Đức Phật Mẫu ngự tại DTC.

·        Kim Bàn Phật Mẫu, vì Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung.

·        Cửu Thiên Huyền Nữ, vì Đức Phật Mẫu rất huyền diệu, ngự tại từng Trời Tạo Hóa Thiên là từng thứ 9 trong Cửu Trùng Thiên.

·        Đức MẸ thiêng liêng,

·        Đại Từ Mẫu,

·        Thiên Hậu,

·        Địa Mẫu,

·        MẸ sanh.

·        Đạo Cao Đài tôn thờ Đức Phật Mẫu là tôn thờ NGÔI ÂM, tức là Ngôi Thứ Nhì; còn NGÔI DƯƠNG là Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, tức Ngôi Thứ Nhứt.

Đây là một Triết lý hết sức mới mẻ và đúng đắn mà từ trước tới nay các tôn giáo chưa từng có. Họ chỉ biết thờ Ngôi Dương mà thôi.

Việc thờ phượng Đức Phật Mẫu hiện nay của Đạo Cao Đài còn tạm đặt tại Báo Ân Từ trong Nội Ô TTTN, vì Điện Thờ Phật Mẫu Trung Ương chưa xây dựng. Chừng nào Hội Thánh xây dựng Điện Thờ Phật Mẫu Trung Ương thì sẽ chánh thức thờ Đức Phật Mẫu tại đó và trả lại Báo Ân Từ làm đền thờ các bậc vĩ nhân có đại công với nhơn loại và các bậc tiền bối có đại công với Đạo, để hậu sanh tỏ lòng biết ơn theo đúng chức năng của nó như tên gọi Báo Ân Từ (nhà thờ báo ơn).

 

II. Quyền năng của Đức Phật Mẫu:

Quyền năng to lớn của Đức Phật Mẫu được cho biết trong hai bài kinh: Phật Mẫu Chơn Kinh và Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu, và trong các bài Thánh Ngôn của Đức Phật Mẫu giáng cơ ban cho (Thánh Ngôn của Đức Diêu Trì Kim Mẫu có chép trong phần sau).

Một số quyền năng của Đức Phật Mẫu được biết kể ra:

1. Chủ Âm Quang:

Đức Chí Tôn làm chủ Dương Quang, Đức Phật Mẫu làm chủ Âm Quang, nghĩa là Đức Chí Tôn giao cho Đức Phật Mẫu làm chủ phần Âm trong toàn cả CKVT.

PMCK: Chủ Âm Quang thường tùng Thiên mạng.

2. Chưởng quản Kim Bàn:

Kim Bàn hay Kim Bồn là nơi Đức Phật Mẫu dùng chứa các nguyên chất để tạo Chơn thần (Xác thân thiêng liêng) cho con người nơi cõi thiêng liêng.

KĐ9C: Nơi Kim Bồn vàn vàn nguơn chất,
                    Tạo hình hài các bậc nguyên nhân.

3. Chưởng quản Vườn Đào Tiên:

Đức Phật Mẫu lập ra Vườn Đào Tiên và dùng các quả Đào Tiên ban thưởng cho các Chơn linh tu hành đắc đạo khi trở về cõi Thiêng liêng Hằng sống.

PMCK: Chưởng Đào Tiên thủ giải trường tồn.

KĐ2C: Tây Vương Mẫu vườn Đào ướm chín,
Chén trường sanh có lịnh ngự ban.
Tiệc hồng đã dọn sẵn sàng,
Chơn thần khá đến hội hàng chư linh.

Hằng năm, đến kỳ Đào Tiên chín, Đức Phật Mẫu mở Hội Yến Bàn Đào nơi Diêu Trì Cung, dùng các quả Đào Tiên và Tiên tửu, đãi các Đấng Tiên Phật nơi cõi thiêng liêng.

4. Tận độ nhơn sanh:

Toàn cả nhơn loại, nhứt là 92 ức nguyên nhân đang còn trầm luân nơi cõi trần, đều là con cái thương yêu của Đức Phật Mẫu. Đức Phật Mẫu tận dụng các hình thức giáo hóa để cứu độ tất cả con cái của Ngài, đem trở về cõi thiêng liêng, giao cho Đức Chí Tôn phán định phẩm tước và ngôi vị.

PMCK: Nghiệp hồng vận tử hồi môn,
Chí Công định vị vĩnh tồn Thiên Cung.

5. Chưởng quản Tạo Hóa Thiên:

Tạo Hóa Thiên là từng Trời rất huyền diệu, cao nhứt trong Cửu Trùng Thiên.

Theo DLCK: "Tạo Hóa Huyền Thiên hữu: Quảng Sanh Phật, Dưỡng Dục Phật, Chưởng Hậu Phật, Thủ Luân Phật, dữ Cửu vị Nữ Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, tùng lịnh Kim Bàn Phật Mẫu, năng tạo năng hóa Vạn linh, năng du Ta-bà Thế giới, dưỡng dục quần sanh, qui nguyên Phật vị.

Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, thính Ngã dục tu phát nguyện: Nam mô Kim Bàn Phật Mẫu dưỡng dục quần linh; nhược hữu sanh, nhược vị sanh, nhược hữu kiếp, nhược vô kiếp, nhược hữu tội, nhược vô tội, nhược hữu niệm, nhược vô niệm, huờn hư thi hình đắc A-Nậu Đa-La Tam-Diệu Tam-Bồ-Đề xá lợi tử qui nguyên Phật vị, tất đắc giải thoát."

Nghĩa là: Từng Trời Tạo Hóa Thiên huyền diệu có: Quảng Sanh Phật, Dưỡng Dục Phật, Chưởng Hậu Phật, Thủ Luân Phật, cùng với Chín vị Nữ Phật, như các cấp vô số Phật, tuân theo mạng lịnh của Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn, có khả năng tạo hóa tất cả Chơn linh, có khả năng đi đây đi đó đến các cõi trần, nuôi nấng chăm sóc chúng sanh, trở về nguồn cội là ngôi vị Phật.

Nếu như có người nam lành, người nữ lành, nghe theo lời Ta, muốn tu hành thì phát ra lời nguyện: Nam mô Kim Bàn Phật Mẫu nuôi nấng chăm sóc tất cả các Chơn linh ; nếu như có sanh ra, nếu như chưa sanh ra, nếu như có kiếp sống, nếu như không có kiếp sống, nếu như có tội, nếu như không tội, nếu như có lòng tưởng niệm, nếu như không có lòng tưởng niệm, trở lại cõi Hư Vô, thi hành đúng theo khuôn phép, được phẩm vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Chơn thần trở về nguồn cội là ngôi vị Phật, ắt được giải thoát.

6. Quyền làm MẸ Vạn linh:

Đức Phật Mẫu là bà MẸ thiêng liêng của toàn cả Vạn linh, mà Vạn linh thì gồm đủ Bát Hồn (tức là 8 phẩm Chơn linh) gồm: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.

 

 

 

--------------------------------------------------

(*)(*)(*) Trích trong Cao Đài Từ Điển.    

 

HỒN NGAO DU TIÊN CẢNH

 

Nam mô Phật Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát.

Nam Mô Phật Mẹ Cữu Thiên Huyền Nữ...

Mỗi đêm, khi Liên Nhã tôi vừa nằm xuống để chuẩn bị cho giấc ngủ thì đều thường niệm danh hiệu của các đấng bề trên như thế. Tôi niệm cho đến bao giờ ngủ quên mới thôi. Trong giấc ngủ, tôi thường hay nằm mơ thấy các bậc Tiên Thánh truyền dạy cho những bí pháp…

Một hôm, tôi ngủ mơ thấy mình được Phật Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát và Phật Mẹ Cửu Thiên Huyền Nữ dẫn đi lên Điện Diêu Trì.

Đi lên qua rất nhiều tầng mây… mỗi tầng mây là mỗi cảnh giới thật đặc biệt, lạ lùng và màu sắc thật xinh đẹp không thể tả hết. Khi đến tầng mây có đủ năm màu, mỗi màu mây đều toả sáng lung linh… Đi vòng qua nhiều toà lâu đài nguy nga rực rở, Phật Mẹ Cửu Thiên Huyền Nữ nói: 

-  “Đã đến Điện Diêu Trì Kim Mẫu.”

Tôi ngước mặt lên nhìn thấy: Trên cửa điện có tấm bảng thật lớn, sơn màu xanh lá cam thật tươi, quanh khung bảng có chạm khắc những hoa văn thật tinh xảo, nền bảng có chạm khắc những cụm mây nhỏ rải rác, đều sơn son thết vàng, giửa có ba chữ hán viết theo kiểu lệ tự: DIÊU TRÌ ĐIỆN, mỗi chữ to cở một mét vuông, bề dày của chữ cở 30 cm, được sơn son và phủ bằng vàng lá, sáng lấp lánh...

Bước vào bên trong điện, tôi nghe tiếng nhạc êm dịu, du dương, trầm bổng, khiến đầu óc tôi thật vui tươi thanh thản, tâm hồn thanh thoát, bay bổng...

Án trước bệ hành lễ là một đĩnh lư trầm bằng đồng đen, hình chữ nhật, ngang bốn mét, rộng hai mét, cao một mét hai mươi phân, có điêu khắc nhiều hình ảnh chim hoa thật tinh xảo. Mùi hương ngào ngạt từ đĩnh trầm bay toả ra bát ngát… Hai bên đĩnh trầm là hai con bạch tượng có cặp ngà dài chín mét, được tạc bằng bạch ngọc. Trên lưng mỗi con bạch tượng có một cây đèn bằng sáp vàng thật lớn, đường kính một mét hai mươi phân, cao ba mét sáu mươi phân đang cháy sáng rực, và còn rất nhiều thứ đồ vật khác trưng bày khắp nơi nơi... nhưng tôi nhìn thấy không rõ là những đồ vật gì, vì khói từ đĩnh lư trầm đang toả ra mù mịt.

Lúc này tôi đang đứng giửa điện. Phật Mẹ Quan Âm và Phật Mẹ Cửu Thiên đứng ngang mặt nhau, trước tôi khoảng hai mét. Phật Mẹ Quán Thế Âm đứng phía bên phải của tôi, còn Phật Mẹ Cửu Thiên Huyền Nữ đứng phía bên trái của tôi.

Phật Mẹ Cửu Thiên Huyền Nữ bảo tôi quỳ xuống giửa tấm thảm nhung màu đỏ, có thêu hoa vân bằng chỉ kim tuyến màu vàng. Ngước mặt lên nhìn, qua màn khói mờ mờ, với khoảng cách chừng mười mét, tôi thấy Phật Mẹ Diêu Trì ngồi trên cao cách mặt đất khoảng bốn mét. Tôi không thể nhìn thấy rõ được nét mặt của Phật Mẹ Diêu Trì... chợt trong một bên tai của tôi nghe như tiếng của ai nói vào “Bà không cho nhìn thấy rõ mặt đâu; hoặc người âm muốn cho người dương nhìn thấy cái gì, thì chỉ thấy thứ đó thôi”. Tôi chỉ thấy Phật Mẹ Diêu Trì đội mão long phụng màu đỏ, có gắn hạt kim sa, ngân châu, ngọc bích, bạch pha lê, thanh pha lê, huỳnh pha lê, hồng pha lê, tử pha lê… màu sắc của các hạt đó đều chiếu sáng tua tủa khắp điện, thật lung linh huyền ảo! Phật Mẹ Diêu Trì mặc chiếc áo màu xanh lá cam có thêu những cụm mây bằng chỉ kim tuyến màu vàng lấp lánh, chiếc đai màu đỏ đoạn giửa có nạm một thẻ vuông bằng cẫm vân ngọc thạch. Tay phải đở gốc thanh bảo ngọc dựa đứng vào thân người, có màu ngọc lam, dài cở bốn - năm tấc (40 - 50 cm). Phật Mẹ Diêu Trì ngồi trên chiếc ngai bằng vàng rồng, phía sau lưng là tấm phủ có chạm khắc hình con chim loan đang xoè cánh múa đuôi thật tinh xảo và tô màu sắc thật sống động!…

Từ nơi chỗ đứng của Phật Mẹ Quán Thế Âm dẫn vào đến bệ ngồi của Phật Mẹ Diêu Trì khoảng chừng tám mét, Phật Mẹ Diêu Trì đang nói chuyện với Phật Mẹ Quan Thế Âm điều gì đó… tôi cố ý lắng nghe mà không nghe được!... Phật Mẹ Cửu Thiên bảo tôi lạy tạ ân ba lạy. Trong lúc tôi đang lạy tạ thì tai nghe tiếng của ba vị Phật mẹ cùng cười, như đầy sự vui vẻ.

Dưới mái hiên phía trước Điện Diêu Trì, tôi ngồi kiết già, hai tay chấp sát trước ngực, mắt nhắm, một lòng lắng nghe Phật Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát truyền dạy:

“… Lâu nay ta đã truyền dạy cho chư sư, chư cố, chư cha... các thần chú khác. Nay ta truyền dạy thần chú này cho con:  

DUỆ DUỆ MA MA HỒNG HỒNG”.

“Người bình thường nghe thần chú này thân thể khoẻ mạnh, sống lâu... Người có lòng nhân từ, thường làm công việc phước thiện, nghe thần chú này tâm trí càng thêm sáng suốt, thăng quan tiến chức, hưởng phước lộc giàu sang... Người buồn khổ, bệnh đau lâu ngày nghe thần chú này cơ thể hồi phục, vui tươi, hạnh phúc. Kẻ bất hiếu, tà tâm, độc ác nghe thần chú này hồi tâm tỉnh trí, thành người hiền lương, đầy lòng nhân đức. Các vong linh mới vừa quá vãng (những người vừa mới chết), hay chưa đi đầu thai nghe thần chú này liền siêu thoát, tái sinh vào chổ quyền quý. Các loài cầm thú, muôn loài sinh vật nghe thần chú này liền chuyển kiếp thành con người có thân tướng xinh đẹp. Những oan hồn, tà ma, yêu quái, thập loại cô hồn và các vong nhân đang bị giam cầm, khảo tra nơi địa ngục nghe thần chú này thì siêu sinh thoát hoá, đầu thai thành người hiền lành nhân đức.”

“Người chân chánh trì niệm thần chú này phước thọ tăng cao, thân tâm an lạc, có trí huệ siêu việt, nghe và nhìn thấy rất xa, hiểu biết rất rộng, ghi nhớ rất lâu, thấu rõ ba kiếp về trước và ba kiếp về sau của đời người, biết tính thiện ác của mọi người và hiểu rõ những chuyện nhân sinh thiên hạ, hoặc nhìn thấy hình ảnh, nghe được những lời u ẩn của các vong linh xiêu mồ lạc mã đang phiêu bạt...”

“Nếu có người quyết tâm tu hành trai giới thật thanh tịnh, chuyên tâm trì niệm thần chú này thì chứng pháp Thiên Nhĩ Thông và pháp Thiên Nhãn Thông... hào quang sáng ngời (các luân xa đều khai mở rất cao), đạo quả viên mãn.”

Chợt nghe như có tiếng chuông nhà thờ đổ ngân nga… tôi liền tỉnh giấc. Lúc đó là 02 giờ sáng ngày 19 tháng 11 AL năm At Tỵ – 1965.

  


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Các thông tin khác

                   

  CLB. KCKCT TP Hà Nội                                CLB. KCKCT TP Hồ Chí Minh                       CLB. KCKCT TP Saint Petersburg - Nga     CLB. KCKCT TP Tver - Liên Bang Nga        CLB. KCKCT TP Moscow - Liên B. Nga

 
 


 

Website: http://www.khicongkimcangthien.com

              http://www.khicongkimcangthien.net