Hướng dẫn khí công KCT
Sơ cấp 2
Cập nhật lúc: 07 Tháng Mười Hai 2010 1:09:03 CH

Hướng dẫn Khí công Kim cang Thiền-Sơ cấp 2

Sơ cấp II


NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT           

TRƯỚC KHI TẬP LUYỆN 

 

I - NHỮNG MÔN CÔNG PHU CÓ LIÊN

  QUAN VỚI KHÍ CÔNG

Người quyết tâm học tập, hăng say lao động, sáng tạo sẽ thành công trên nhiều lĩnh vực, thăng tiến đến đỉnh cao của sự vinh quang. Những môn võ công, nội công, ngoại công, ngạnh công, nhuyễn công, khinh công, khí công và tâm công v.v… của Trung Hoa là các môn tập luyện hao tốn rất nhiều công sức và thời gian, có các vị lão tiền bối luyện tập các công pháp này đạt đến bậc thượng thừa nhưng họ vẫn chưa nhận thấy đến đỉnh cuối cùng.

Hiện nay, các bài tập này trên thế giới có rất nhiều người đang quan tâm, bởi vì thực tế cho thấy khi luyện tập, bệnh tật thuyên giảm, cơ thể khỏe mạnh, trí não minh mẫn, có những công năng phi thường giúp ích cộng đồng xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Sơ lược các công pháp nêu trên như sau:

- Khí công: Ngày nay, khí công được xem là một trong những phương pháp điều trị hỗ trợ hay liệu pháp không dùng thuốc. Hiệu quả chữa bệnh của môn khí công và khí công thượng thừa rất siêu việt, các công pháp khác hoàn toàn không thể thực hiện được. Các bậc tiền bối cho biết, nếu luyện tập các công pháp khác, thì cũng nên tập thêm khí công để tự bảo vệ mình, vì khi mắc phải các chứng bệnh khó, đều phải nhờ đến khí công cứu trợ.

- Võ công: Người tập luyện để có nhân cách, hiểu biết cách sống có đạo lý, yêu thiên nhiên, xã hội, bản thân và có yêu cầu phục vụ xã hội. Có những động tác cơ bản trong võ công sáng tạo chiêu thức khí công, quyền thuật kết hợp với khí công gọi là “võ khí công” như Thái cực quyền, Tinh huê quyền... thuộc khí công động cấp cao.

- Nội công: Người tập luyện có nội lực cao đủ sức chịu đựng sự va chạm mạnh, vật nặng đè ép. Giúp người sử dụng võ công có thêm sức mạnh, hoạt động dẻo dai, bền bỉ để chiến thắng kẻ ác. Có trường hợp cần sử dụng cùng lúc cả nội công và khí công gọi là công pháp nội khí.

- Ngoại công: Người tập luyện có thân thể khỏe mạnh, cứng chắc. Dùng ngoại công phá vỡ tan các vật như gạch, gỗ và đá... vượt qua mọi vật cản kiên cố, chiến thắng kẻ xấu. Người thể hiện những công năng đặc dị của môn ngoại công khiến nhiều người xem rất thú vị và mến phục.

- Ngạnh công: Người tập luyện kết quả cao có khả năng điều khí đến khắp nơi cơ thể thật nhanh và cực mạnh, nơi đó trở thành vật cứng... chế ngự đối phương.

- Nhuyễn công: Người luyện tập đạt kết quả cao có khả năng làm mền dẻo cơ thể, giảm sức va chạm trọng lực cơ thể, giúp thoát qua tai nạn hiểm nguy đến tính mạng do độ rơi cao, té ngã hoặc trong giao đấu.

- Khinh công: Người luyện tập sẽ đạt trình độ cao về thể lực, khí lực và ý lực. Khi cần có thể tự làm giảm trọng lượng cơ thể đến mức tối đa, thật nhẹ nhàng như chiếc lá, nhưng rất nhanh lẹ và đầy sức mạnh, năng lực nhạy cảm rất tốt và tinh thần rất sáng suốt. Khinh công là sản phẩm đặc thù của môn khí công và khí công thượng thừa, phương pháp luyện tập rất đặc biệt, bí truyền và ít phổ biến. Ngày xưa người dùng khinh công chủ yếu để đi truyền đạt thông tin giữa những khoảng cách xa xôi hiểm trở, nó cũng được ứng dụng vào võ thuật.

- Tâm công: Như các pháp Chúc do thập tam khoa, Bí tắc kim cang công phu, Vạn pháp quy tông, Thần quyền lục pháp, v.v... thuộc khí công thượng thừa, là pháp môn huyền bí và chỉ được tâm truyền, tức là chân sư nhận thấy người học trò có đủ nhân duyên và tâm đức lớn mới truyền dạy cho. Người thành công các pháp trong tâm công do tuân thủ các điều luật nghiêm cẩn và kiêng cữ đối với một số đồ ăn thức uống. Công năng chính của tâm công là chữa trị thân bệnh và tâm bệnh... Ngày nay các môn phái võ thuật thường biểu diễn những công năng đặc dị trong tâm công trước quần chúng nhằm tăng không khí nhộn nhịp trong dịp lễ hội. 

Tâm công là pháp chữa thân và tâm bệnh, tuy nhiên cũng tùy thuộc vào công năng của mỗi pháp phù hợp với bệnh mà sử dụng, không dùng pháp trừ tà ma đem chữa viêm sưng, đứt tay chảy máu hoặc ngược lại. Có người lợi dụng công phu đặc dị trong tâm công phô diễn khi chữa bệnh, đó là việc làm kém đạo đức, không đúng nhân cách, có tính khoa trương… và cuối cùng không mang lại hiệu quả.

- Pháp công: Là phép dị thuật hay trò lạ mắt như xiếc và ảo thuật. Điều kiện với người luyện tập đơn giản, không cần học qua võ công hay nội công, không có điều luật nghiêm cấm hay kiêng kỵ một số đồ ăn uống như trong tâm công. Chỉ cần yêu thích và chịu tốn thời gian để khổ công luyện tập đều thành công. Pháp công hoàn toàn không có khả năng tác động xấu đến người khác, vì nó chỉ là những môn giải trí độc đáo và lạ mắt. Tuy nhiên, một số người có tâm xấu, không nghĩ tội, phước hay dùng dị thuật, xảo thuật bày trò thư ếm hoặc việc mở thư, mở ếm... để hù dọa và lừa gạt nhiều người lấy tiền của, chúng ta cần cảnh giác cao.   

10 – Tứ Linh công: Trong dân gian nói về sự hoạt động và sống lâu của loài Tứ Linh như sau:

- Rồng: Hay tự cao, thể hiện sự dũng mãnh, biến hóa phi thường… đã tuyệt chủng.

- Phượng: Thích khoe bóng dáng, bay lượn cao, múa giỏi… đã tuyệt chủng.

- Lân: Ỷ lại sức mạnh, năng động tung hoành, vui đùa thỏa thích… đã tuyệt chủng.

- Rùa: Hiền lành, bình tĩnh, hòa đồng, chịu khó, kiên trì… nên vẫn còn cho đến nay.  

Vì vậy trong khí công người ta thường áp dụng luyện thở theo Quy tức…  tức là thở thật chậm, thật nhẹ, thật dài và thật đều hơi.  

Đạo sĩ Kim Kang Ta chia sẻ sự ích lợi của  việc thở Quy tức như sau:

Trong ngôi nhà đóng kín cửa có chứa nhiều vật dụng phế thải, đồ dùng quá dơ bẩn, ô nhiễm môi trường và phải thường xuyên tiếp xúc, cho nên con người lắm bệnh đau. Không cần đi đâu xa để tìm kiếm không khí sạch đem về nhà mà hãy mở ngay các cửa ra, thường xuyên quét dọn nhà cửa, chà rửa đồ dùng, lau chuì vật dụng thật kỹ, bảo vệ môi trường chung quanh sạch sẻ, không để sự dơ bẩn tiếp tục diễn ra thì không khí sạch tự vào tràn ngập, cuộc sống có nhiều sự hạnh phúc đang mĩm cười. Trong luyện tập khí công hay thiền định, hít thở đúng cách là phương pháp duy nhất vệ sinh cơ thể và tinh thần. Nếu thường ngày và mọi lúc mọi nơi, chúng ta nên thực hành luyện thở thật chậm, thật nhẹ, thật dài và thật đều hơi đúng cách, thì trong cơ thể khí huyết lưu thông xuyên suốt, những tế bào mới sớm sinh ra, hệ miễn dịch tăng cường, thích nghi môi trường, thời tiết thì không bệnh đau, khỏe mạnh, trẻ mãi, lao động hăng say và không mệt mỏi, sống lâu, trí não minh mẫn, tư duy nhạy bén, tâm linh thăng hoa, có khả năng diệu kỳ, …

Và ông giải thích thêm:    

-  Hơi thở thật chậm, giúp những tế bào mới phát triển nhanh hơn, sự hồi phục các mô, cơ tốt hơn, tâm luôn bình tĩnh, kiên nhẫn, cẩn thận, trí huệ sáng suốt, có ý tưởng hay, và sáng tạo giỏi… 

- Hơi thở thật nhẹ, (*)giúp tăng cường hệ miễn dịch thật cao, cơ thể không bệnh, tâm luôn vui vẻ, biết hòa đồng, bao dung, tha thứ, yêu thương mọi người và muôn loài…

- Hơi thở thật dài, (sâu) giúp các mạch máu, thần kinh hoạt động thông suốt, bền bĩ, tinh thần đầy nghị lực, tự tin vượt qua những khó khăn, hiểm nguy và thoát khỏi mọi sự cám giỗ từ bên ngoài…

- Hơi thở thật đều, giúp sức lực dẻo dai hơn, học tập, lao động tốt hơn, ý chí vững mạnh và nhiều điều ước mơ sớm thành tựu, v.v…  

 

______________________________

(*) Thở thật nhẹ: Khi thở, dùng sợi tơ đặt trước mũi mà sợ tơ không lay động; hoặc khi thở mà ta không còn cảm giác đang thở ra hay vào…

II - TẨU HỎA NHẬP MA

Người tập luyện khí công thường nghe nói đến câu “tẩu hoả nhập ma”, nó dùng để chỉ những người luyện tập khí công không đúng phương pháp gây hậu quả rất nghiêm trọng. Bởi vì, người ngồi thiền, luyện tĩnh công hay suy nghĩ mông lung, tâm ý tán loạn và người dùng ý điều khí lên - xuống sai pháp hướng dẫn nhưng vẫn cố sức và kéo dài thời gian luyện tập, khiến “hoả trược khí” bị ứ đọng tại các luân xa và bốc lên chạy khắp cơ thể làm rối loạn khí huyết, tổn hại hệ thần kinh, thân xác có nơi giảm sự nhạy cảm hoặc tê cứng chẳng còn cảm giác gì, hoặc sinh ra khùng điên v.v... Đạo sĩ Kim Kang Ta cho biết “tẩu hỏa nhập ma chỉ xảy ra với người luyện tập tĩnh khí công và khí công kiêm động tĩnh - tức là quán tưởng và dùng ý điều khí, còn động khí công thì chưa phát hiện”.

Người bệnh tẩu hỏa nặng có những biểu hiện thường gặp như sau:  

- Cơ Thể: Ăn uống không ngon, không muốn ăn uống, thường mệt mỏi, hơi thở nặng nề, cảm giác ở ngực như có vật gì đang đè nặng, hay ngủ gà, ngủ gật mấy ngày đêm liền hoặc lại thức suốt ngày đêm không ngủ. Hoặc vùng ngực sườn bị đau nhức rất khổ sở, khó chịu ở vùng đầu cổ gáy, chóng mặt ù tai, mắt đỏ, hoa mắt, tay chân nặng nề, lúc đau chỗ này lúc chỗ khác hay đau một chỗ rất dữ dội, đi đứng nằm ngồi không yên, không muốn hoạt động, cao huyết áp thường xuyên, liệt dương, các khối u hạch, bệnh ung thư tiến đến rất nhanh. Hoặc cơ thể luôn phát ra hơi nóng thật khó chịu phải đi tắm nhiều lần trong ngày hay đang ngâm mình trong bồn nước lạnh nhưng vẫn còn cảm thấy toàn thân nóng bức, nóng muốn phát điên. Hoặc không tiếp xúc được môi trường lạnh, thức ăn uống mát  lạnh như kem, nước đá và có lúc cảm thấy toàn thân bị lạnh cóng... 

- Tinh Thần: Không tươi tỉnh, giấc ngủ không yên, thường buồn chán và hay hoang tưởng... Nếu bị nặng hơn thì bên tai thường nghe như tiếng của ai đang nói vào, mắt vẫn mở mà như nằm mơ thấy những hiện tượng rùng rợn, những hình ảnh rất kì lạ ghê sợ, thấy các vong hồn của người thân thuộc hay quỉ ma, tiên thánh. Nếu cứ để diễn biến xấu hơn thì ảnh hưởng sâu vào hệ thần kinh làm tâm tính thay đổi rất bất thường, có lúc ngồi trầm ngâm một mình hay đi nghêu ngao ca hát, có lúc cười đùa rất hồn nhiên, có khi quậy phá, hay sợ sệt hoặc sợ hãi, bệnh nhân thường không muốn ăn uống hoặc ngược lại luôn ăn uống thật nhiều, ăn mọi thứ ngay cả thực phẩm thiếu vệ sinh... 

Bệnh tẩu hỏa nhập ma cần phải xác định đúng nguyên nhân và được chữa trị kịp thời mới có kết quả tốt. Có năm nguyên nhân cơ bản phải chú ý như sau:  

- Nguyên nhân thứ nhất là do người thầy thiếu kinh nghiệm hoặc thầy không nhiệt tâm chỉ dạy cho học trò.

- Nguyên nhân thứ hai là mặc dù được sự tận tình chỉ dẫn nhưng người tập không ghi nhớ kỹ mà làm sai những lời thầy đã chỉ dạy. 

- Nguyên nhân thức ba là người tập xem thường phương pháp đã chỉ dẫn mà chỉ muốn luyện tập theo ý riêng của mình.

- Nguyên nhân thứ tư là người tập quá ham muốn mau chóng đạt kết quả nên đã đốt cháy giai đoạn hoặc tăng tốc độ tập.  

-  Nguyên do thứ năm là người tự ý liều lĩnh tập luyện khí công mà không được chỉ dạy cẩn thận.  

Cũng có người cho rằng, tẩu hỏa nhập ma ngày nay chỉ còn là tưởng tượng và không thể xảy ra cho người luyện tập khí công nữa. Đây là một cách nhìn nhận theo cảm tính, cần tìm hiểu suy xét thật kỹ và phân tích rõ thêm. Tuy nhiên, ai cũng hiểu một nguyên tắc là nếu làm việc không cẩn thận, sai qui trình, qui phạm, thì thường xảy ra tai nạn lao động, thiệt hại đến bản thân và tài sản, cũng như dùng thuốc chữa bệnh sai chỉ dẫn của thầy thuốc sẽ nguy hại đến tính mạng. Việc luyện tập tĩnh khí công, thiền định có thể hiểu một cách khác đó là tập xoay cái “nhìn” của mình vào bên trong để điều chỉnh cơ thể hòa nhập với tự nhiên, với năng lượng của vũ trụ. Thành ngữ “tẩu hỏa nhập ma” ngày nay được sử dụng rộng rãi với mọi người khắp các lĩnh vực, nó áp dụng tới cả học sinh đang luyện thi đại học để nhắc nhở thí sinh không chỉ cần quyết tâm cao mà phải học đúng phương pháp và đủ thời gian, nếu không sẽ tổn hại đến sinh mạng, đặc biệt là hệ thần kinh. Xã hội và gia đình bây giờ luôn lập trình cho tương lai một đứa trẻ lớn lên phải thành đạt, còn sức khỏe đã có thuốc bổ và bệnh viện hiện đại chăm lo. Con người càng sống với phương tiện tối tân nhiều bao nhiêu, thì càng xa rời bản thể mình bấy nhiêu, điều này làm khả năng thích nghi của con người với biến động của môi trường kém dần đi, trong khi đó thiên tai, dịch bệnh mới phát sinh ngày càng nhiều. Kết qủa của bao thập niên con người chạy theo mục tiêu thành đạt bằng mọi giá, mà quên mất bản thể chính mình đã làm cho việc tự “nhìn” vào bên trong trở nên khó khăn hơn. Môn sinh làm sao có thể dùng ý dẫn khí tới luân xa, trong khi ý nghĩ còn đang lo toan đến mưu sinh  hoặc tâm trí vẫn mải mê cạnh tranh trên thương trường. Đó là một trong những lý do để nói lên một nghịch lý rằng, dù khí công đã phổ biến rộng rãi tới đại chúng, nhưng hành trình luyện tập tới kết qủa như ý lại mất nhiều thời gian hơn nên con đường càng hẹp hơn, khí công thực chất đã biến thành món hàng xa xỉ. Cũng vì thế, hiện nay hiện tượng tẩu hỏa nhập ma không mất đi mà có thêm biến dạng mới có tên chung là căng thẳng thần kinh (stress) đang len lỏi vào mọi ngõ ngách cơ thể sống của con người. 

 
III – TÁC DỤNG CỦA THIỀN DỤC 

Hầu như tất cả các tôn giáo chính thống đều có các giới luật khắt khe để loại bỏ tình dục, vì những tác hại phá hủy của nó gây ra. Chẳng lẽ ngoài chức năng tự nhiên duy trì nòi giống thì dục là xấu xa hoàn toàn sao? Rất hiếm ai nhìn thấy ích lợi đặc biệt của nó, chính mật tông đã bí truyền cho đệ tử cách nhìn nhận dục như một phương tiện đạt tới mục tiêu tối thượng, nó được coi như một phương pháp đi tắt qua miệng vực cực kỳ nguy hiểm, nếu không có một bậc thầy dẫn lối. Vì thế, để được an toàn và dễ dàng cho mọi môn sinh, thì các phương pháp vô dục vẫn được áp dụng rộng rãi cho dù hành trình phải dài lâu.

Tại vùng Khajuraho của Ấn Độ có một ngôi đền nổi tiếng thế giới đã làm cho mọi người ngạc nhiên, vì tường ngoài ngôi đền linh thiêng đó được trang trí bằng những bức điêu khắc các động tác dục. Đây là một trung tâm thiền lớn, những người cho xây đền này phải là những hiền triết, vì họ biết rằng đam mê dục và dục chỉ tồn tại ở ngoại vi cuộc sống nên ai vẫn còn bị dục bắt giữ thì kẹt lại và không có quyền đi vào trong đền. Sự thực bên trong không có một hình ảnh hoặc một thần tượng nào, rõ ràng là thiền nhân cần phải suy ngẫm thật thấu đáo về dục đã mô tả ngoài đền cho tới khi họ thoát khỏi nó, thì mới có thể đi tiếp vào trong để đối diện với thượng đế của mình.  

Có những phương pháp tránh dục như chế dục, tiết dục, an dục, tịnh dục, quán dục, ly dục, đoạn dục. Các phương pháp này không phải là cách hữu hiệu, ngay cả diệt dục bằng cách phế bỏ dương cụ cũng để lại những hệ lụy nặng nề. Trong kinh Phật có dạy: “Đoạn âm bất như đoạn tâm, tâm như công tào”, tạm dịch là đoạn âm không bằng đoạn tâm, vì tâm mới là gốc rễ. Chúng ta đã biết phần tinh túy nhất của năng lượng con người nằm trong dục, bản thân dục là thiêng liêng vì đó là tiếng gọi sinh tồn, chỉ có cách thực hiện nó với các mục đích xấu nên nó mới bị lên án ở mọi nơi. Nếu ta triệt hạ dục ban ngày thì nó xuất hiện vào giấc ngủ ban đêm, ta kiên quyết gạt bỏ nó khỏi ý nghĩ thì nó xuất hiện mạnh mẽ trong tiềm thức, khi dạng năng lượng đặc biệt này bị ngăn chặn thì nó chuyển sang cực đối lập và càng diễn biến nhiều sự phức tạp. Giới nghiên cứu thiền thấy rằng, năng lượng dục đại diện cho sức sống mãnh liệt nhất trong con người, nó như con dao hai lưỡi, nếu không biết sử dụng sẽ giảm kết quả tập luyện vì khả năng tập trung quán tưởng bị yếu đi. Vấn đề là phải tìm ra kênh dẫn hóa giải cho những người có nhiều ham muốn dục lạc. Có câu chuyện dưới đây ta sẽ thấy không dễ gì khống chế nổi tâm trí mỗi người:  

Một vị tăng trẻ qua đò, thấy cô lái đò có nhan sắc tuyệt trần nên cứ nhìn mãi, khi bị trả tiền đò gấp đôi người khác thì ông ta thắc mắc:  

- Tại vì sao những người khác cô chỉ thu một hào còn tôi thì hai? 

Cô lái đò đáp: 

- Một hào ông qua đò, một hào nữa là ông mãi nhìn tôi. 

Trên đường quay về lại bến đò, vì sợ sẽ phải trả thêm tiền nên vị tăng kia chỉ nhìn xuống đất, khi xuống đò rồi liền ngồi quay mặt nơi khác nhất quyết không nhìn cô lái đò nữa. Lúc trả tiền ông cứ nhìn xuống đất, nhưng lần này ông ta vẫn bị trả gấp đôi như trước nên hỏi ngay: 

- Tôi chỉ trả tiền qua đò thôi, lần này tôi có nhìn cô nữa đâu mà phải trả hai hào? 

Cô lái đò giải thích: 

- Đúng là mắt của ông không nhìn tôi, nhưng tâm trí của ông thì chưa rời khỏi tôi.

Vị tăng nọ đành phải trả tiền phạt lần hai cho cô lái đò, coi như đã thừa nhận tội lỗi từ lòng mình. Được biết cô lái đò kia chính là vị Bồ tát hóa thân để nhắc nhở những người tu hành còn vướng vào hương sắc. Qua câu chuyện trên đạo sĩ Kim Kang Ta dạy pháp thiền ly dục cho môn đệ như sau: Trường hợp phải tiếp chuyện với nữ sắc, hãy bình tĩnh nhìn thoáng qua một lần và cúi mặt xuống nhìn một chỗ dưới đất, cười nhẹ bên trong nhằm giảm sự tập trung tâm không xao động. Khi tư tưởng xuất hiện sắc dục hãy nở nụ cười nhẹ lên môi, ngời sáng lên ánh mắt, quán thân bất tịnh và tự nhủ lòng “vui trong một chút khổ hoài ngàn năm”… 

Người luyện tập tĩnh công hay ngồi thiền, các luân xa sẽ khai mở cao và tâm trí sáng suốt. Nhưng, cũng có người trong luyện tập không quyết tâm, khi vừa mới ngồi thì buồn ngủ, càng ngồi lâu tâm trí càng phát sinh ra nhiều vọng niệm, kể cả loạn tưởng dục tình dẫn tới lạc thiền (không ngồi thiền được). Tâm trí và thiền định là hai điều đối lập, vì khi thiền định thì tâm trí phải lặng im, mà bản chất tâm trí là hoạt động nên nó luôn tái tạo hình ảnh và đối thoại không ngừng. Nhà Phật ví tâm như con vượn hay leo trèo, ý như con ngựa đang phi… Vì vậy, nhiều khi phải dùng những công án khác nhau để hành thiền. Đạo sĩ Kim Kang Ta kể câu chuyện như sau:  

Một hôm, vị đạo trưởng gọi người học trò luyện tập bài vô thức đã hơn ba năm lại hỏi:

- Lúc này ông luyện tập tịnh tâm được chưa? 

- Dạ... thưa tôn sư - người học trò xấu hổ trả lời - khi con vừa nhắm mắt lại thì luôn thấy có nhiều cô gái rất xinh đẹp, khỏa thân múa hát. 

- Từ nay, nếu như ông còn thấy các cô gái đó đến múa hát thì ông hãy “bỏ đi nơi khác”, đừng nhìn vào các cô ấy làm gì nữa.

Qua một thời gian khá lâu, người học trò đến quỳ trước mặt vị đạo trưởng cúi đầu nói ấp úng:

- Dạ... Thưa tôn sư, con không thể... “bỏ đi nơi khác” được ạ!

Vị đạo trưởng nghe qua liền có ánh mắt độ lượng và nở nụ cười khoang dung vì biết rằng người học trò này tâm trí còn quá nhiều u mê, rất khó thành công luyện tập tĩnh công như những người khác. Ông liền đưa ra một phương pháp tập: “vào hang bắt cọp.”

Vị đạo trưởng nói: Vậy từ nay, trong số các cô gái đó ông cứ chọn ra một cô thật xinh đẹp để mà ngắm nhìn thoải mái.

Ngay sáng sớm hôm sau, người học trò nọ đến bên vị đạo trưởng vui mừng thưa chuyện:

- Dạ, thưa tôn sư, con đã chọn lựa mãi mới được một cô gái có nhan sắc xinh đẹp vô cùng!...

Vị đạo trưởng tỏ vẻ rất vui mừng và nhìn sâu vào mắt của người học trò một lúc, rồi có lời khuyến khích:

- Từ bây giờ, ông nên thường xuyên nhìn vào thân thể của cô ấy. Này, hãy chọn nơi nào mà ông cảm thấy thích nhất nhé.

Rồi vị đạo trưởng nhập thất trong phòng riêng để luyện công. Sau ba tháng hết nhập thất, vị đạo trưởng thấy người học trò cũ có khí sắc tươi sáng, hoạt động hăng say nhanh nhẹn, tâm trí sáng suốt hơn trước. Ông liền hỏi vui:

- Thế nào, lúc này ông còn nhìn vào thân thể của cô gái ấy nữa không?

- Dạ, thưa tôn sư - người học trò bình tĩnh trả lời - bây giờ con đã hiểu khi luyện tập với tâm trí vọng động thì hay suy nghĩ mông lung, cái đẹp hay cái xấu đều do tâm phân biệt sinh ra. Thưa tôn sư, con đã hiểu ẩn ý của tôn sư chỉ bảo là “bỏ tất cả chỉ chọn một, được một có tất cả”. Tâm mê muội ưa nhìn nhiều cô gái khỏa thân múa hát, phải tu sửa bằng cách tập trung vào một nơi đã chọn mà không thêm ý nghĩ hay có một cử động nhỏ nào khác cho đến khi tâm thật yên tịnh, trí huệ sáng suốt. Ba đêm qua, con không còn thấy một thứ gì nữa và con trở nên rất bình thản trước mọi cảm xúc và cảm thấy thật an vui vô cùng.

Vị đạo trưởng rất vui mừng khi thấy người học trò đã thấu hiểu và thành công với pháp tu luyện tâm ý của mình liền nhẹ gật đầu khen:

-            Nay tâm của ông không mơ tưởng đến những chuyện lạ ngoài thế gian, những việc cũ xưa ông cũng không còn cất giữ trong lòng, như vậy là ông tu luyện tâm ý đến chỗ vắng lặng thật rồi, tâm ý của ông hiện giờ cũng như hoa sen đã vượt lên khỏi chốn bùn lầy, tỏa sắc hương thanh cao.

Vị đạo trưởng này là một người dày kinh nghiệm và hiểu rõ tâm trí học trò của mình đến mức có thể chỉ dẫn đệ tử thực hành một mẹo đưa tâm trí dục vào tình huống bất động và đã chuyển hóa nó.

Nhận thấy những giá trị rất to lớn, cao siêu, sâu xa và huyền diệu trong pháp môn Thiền dục đạo sĩ Kim Kang Ta nói: “Dục tính là đóa hoa tiên khoe sắc hương và là ngọn lửa thiêng của con người. Đừng để sắc hương nhạt phai, lửa thiêng hắt hiu theo kiếp sống, hãy giữ gìn cho hương thơm bay xa cùng ánh sáng toả rộng”.  

Muốn cơ thể không bệnh đau

Muốn tinh thần sáng suốt

Muốn tâm hồn vui tươi, thanh thản

Muôn gia đình hạnh phúc

Muốn sức sống mãnh liệt

Muốn kéo dài tuổi thọ

Muốn hoạt động dẻo dai

Muốn có ý tưởng hay

Muốn có nhiều sáng tạo

Muốn phát huy hiệu quả

Muốn khám phá bí ẩn

Muốn được nhiều sự kính trọng

Muốn đến cực lạc, niết bàn, v.v…

Hãy dùng Thiền dục hóa giải chướng ngại trong tâm trí... Mật tông cho đây là pháp môn đặc thù tẩy độc tinh thần hữu hiệu và giúp ích cơ thể dồi dào năng lượng bậc nhất.    


IV - TÁC DỤNG CỦA NỤ CƯỜI NHẸ 

Biết cười còn là quyền năng duy nhất chỉ dành cho con người. Có hơn ba mươi kiểu cười khác nhau, mỗi cách cười có một ý nghĩa và giá trị riêng như nụ cười xã giao, nụ cười chiến thắng, nụ cười nghiêng thành đổ nước… Người xưa nói: “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”. Y học hiện đại thấy rằng, khi cười khả năng tuần hoàn máu tăng rõ rệt, đặc biệt tạo ra nhiều kháng thể chống bệnh đau, có nghĩa là trao đổi chất có hiệu quả tốt tới mỗi tế bào sống. Như vậy, nếu trong ngày không cười sẽ làm cho con người mau già nua trước tuổi và sinh ra nhiều bệnh tật. Nhiều nước đã dùng liệu pháp cười để chữa bệnh, nhiều nơi trên thế giới có tổ chức hội thi cười, có rất nhiều người không phân biệt tuổi tác giới tính, tôn giáo của nhiều quốc gia khác nhau đến dự thi cười và trao giải thưởng đặc biệt cho người có nụ cười đẹp nhất, giọng cười to tiếng và cười dài nhất.

Khí công Kim Cang thiền xem việc luôn nở nụ cười nhẹ trên môi, ngời sáng lên ánh mắt là bí quyết giúp các luân xa khai mở hoàn hảo, tránh tẩu hỏa nhập ma, đạt kết quả nhanh trong mọi sự luyện tập và thành công trên nhiều lĩnh vực ngoài xã hội. Nụ cười nhẹ trên môi làm nét mặt luôn tươi sáng, toát lên sự hiền từ độ lượng, cùng với ánh mắt ngời sáng như ngầm ý giao hoà và chào đón với lòng thiện cảm, nồng ấm. Người luôn nở nụ cười đi đến đâu cũng được mọi người ái mộ và được kính trọng.

Có câu chuyện về nụ cười nhẹ như sau:  

Tại chùa Giác Sanh, số 103 đường Lê Đại Hành, quận 11 Sài Gòn (hiện nay là đường Âu Cơ, quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh), mùa “An Cư Kiết Hạ” năm 1965, vào đêm rằm tháng 05 năm Ất Tỵ, trong lúc tịnh thiền tâm thức tôi (Liên Nhã) như “mơ” thấy thầy giám viện thiền đường Thích Trí Minh đang họp các thiền sinh ở một ngôi chùa cổ rất xa lạ quở trách, song cũng khuyên dạy: 

“Các ông ngồi thiền chỉ để tâm ngủ mà không để tâm giải thoát. Để tâm ngủ trong lúc ngồi thiền sẽ làm tăng thêm lòng tham, sân, si. Đó là “ba thứ độc”, cũng là những nguyên nhân sinh ra mọi tội lỗi chồng chất trong vô lượng kiếp người... Ngồi Thiền để tâm giải thoát mới ngộ đạo quả Bồ đề, nhưng muốn tâm giải thoát thì phải biết cách giải thoát tâm. Mắt là cửa sổ của tâm hồn, miệng phát ra lời của tâm hồn, như vậy luôn giữ nụ cười nhẹ trên môi, ngời sáng lên ánh mắt là thể hiện sự giải thoát tâm, nên tâm an lạc. Các ông phải dùng tâm an lạc tiêu diệt tham - sân - si, để từ bỏ tất cả những tính ích kỉ, độc ác đã có từ lâu trong lòng. Người trong gia đình biết dùng tâm an lạc thì có đầy đủ hạnh phúc, xã hội biết dùng tâm an lạc thì văn minh giàu mạnh, thế giới biết dùng tâm an lạc thì không có chiến tranh. Ngay trong ngày thường các ông hãy mỉm cười với nhau, điều này sẽ giúp ta lớn lên trong tình yêu của đồng loại thì cuộc sống trở nên an lành. Vậy từ nay các ông phải để tâm giải thoát khi thiền và cười nhẹ mọi lúc, mọi nơi:

- Khi nói chuyện cũng cười nhẹ.

- Khi ăn cũng cười nhẹ.

- Khi uống cũng cười nhẹ.

- Khi đi cũng cười nhẹ.

- Khi đứng cũng cười nhẹ.

- Khi ngồi cũng cười nhẹ.

- Khi nằm cũng cười nhẹ.

- Khi buồn ngủ liền cười nhẹ

- Khi học bài cũng cười nhẹ.

- Khi làm việc cũng cười nhẹ.

- Khi nhìn thấy điều gì liền cười nhẹ.

- Khi nghe chuyện gì liền cười nhẹ.

- Khi tâm nghi ngờ liền cười nhẹ.

- Khi tâm lo sợ liền cười nhẹ.

- Khi thành công liền cười nhẹ.

- Khi thất bại liền cười nhẹ.

- Khi thương yêu cũng cười nhẹ.

- Khi ghen ghét liền cười nhẹ.

- Khi tức giận liền cười nhẹ.

- Khi chờ đợi cũng cười nhẹ.

- Khi thất vọng liền cười nhẹ.

- Khi tâm ích kỷ liền cười nhẹ.

- Khi tâm cố chấp liền cười nhẹ.

- Được cũng cười nhẹ.

- Mất cũng cười nhẹ.

- Có cũng cười nhẹ.

- Không cũng cười nhẹ.

- Đúng cũng cười nhẹ.

- Sai cũng cười nhẹ.

- Được khen cũng cười nhẹ.

- Bị chê cũng cười nhẹ.

- Khi ngồi thiền cảm giác thân thể đau nhức tê dại liền cười nhẹ.

- Khi có cử chỉ dù thật nhẹ nhàng cũng cười nhẹ.

- Khi tai nghe một tiếng động dù rất nhỏ cũng cười nhẹ.

- Khi có ý nghĩ dù thiện hay ác, tốt hay xấu vừa thoáng qua cũng đều cười nhẹ.

- Tóm lại, khi ta có cử chỉ, hành động, cảm giác, lời nói, cảm xúc, ý tưởng v.v… đều cười nhẹ.

Cười mà không cười

Không cười mà cười

Cười nhẹ cái sắc

Cười nhẹ cái không...

Đó không phải cười cợt, cười xã giao hay vô lối như kẻ khùng điên, hãy chú tâm tập cười, như thế thì bến mê sẽ xa rời, bờ giác đang tới gần.” 

 

Chú giải:  

- Cười mà không cười là cái cười của nội tâm an trụ ở trong lòng mà không hiện tướng ra ngoài cho mọi người thấy.

- Không cười mà cười là cái cười của người nhìn thấu chân tướng mọi sự đời, cười vào thế giới vật chất phù du giả tạm trong khi người ta ra sức giành giật nó mà vẫn đau khổ triền miên.

- Cười nhẹ cái sắc, cười nhẹ cái không là cái cười vào những điều mê lầm mà người ta cứ tưởng thật (maya, ảo hóa), không tức là sắc, sắc tức là không, tất cả đều vô thường… cái cười như vậy là cái cười của đạo, tùy duyên mà hiển tướng như nụ cười của Đức Phật Di Lạc mà ai nhìn thấy cũng muốn cười theo. Vậy chúng ta hãy giữ cho nụ cười trong tâm hồn của mình không bao giờ tắt, cả khi ngủ ta cũng mang theo sang ngày mới.


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Các thông tin khác

                   

  CLB. KCKCT TP Hà Nội                                CLB. KCKCT TP Hồ Chí Minh                       CLB. KCKCT TP Saint Petersburg - Nga     CLB. KCKCT TP Tver - Liên Bang Nga        CLB. KCKCT TP Moscow - Liên B. Nga

 
 


 

Website: http://www.khicongkimcangthien.com

              http://www.khicongkimcangthien.net